VTH – Nhận được tin nhắn của một bạn thơ, rằng trên Gió-o.com có một bài viết của tác giả  Võ Chân Cửu về Thơ VTH (tại đây) trong tuyển tập thơ “Bởi vì ta yêu nhau”. Hôm nay mình mới vào xem và vui vì… đọc thơ VTH, nhà thơ Võ Chân Cửu đã tưởng mình còn… trẻ lắm! Hi hi, coi như món quà 8/3 của một người anh chưa hề quen biết!  Cám ơn nhà thơ Võ Chân Cửu!

  • Võ Chân Cửu sinh năm 1952 tại Bình Định, làm thơ từ năm 1965 và làm báo dưới bút danh Hưng Văn từ sau 1975. Anh hiện thu mình lại giữa rừng núi Đại Lào (Lâm Đồng),
  • Chủ trương Tập san Thi Ca (tháng 3-1975)
  • Đã xuất bản:

– Tinh Sương (Thi Ca, SaiGon 1972)
– Đại Mộng (Nhị Khê, Sai Gon 1973)
– Trường ca Quảy Đá Qua Đồng (1974)
– Ngã Tư Vầng Trăng (NXB Trẻ 1990)
– Trước Sau, (Thư Ấn Quán, 2011)
– Ngọn Gió , NXB Văn Học 2011)
– Trường ca Quảy Đá Qua Đồng và các bài thơ chưa in thành sách

Mặt tiền Nghệ thuật
(tản mạn nhiều kỳ)
Kỳ 4:
Hoa cỏ ven sông

  Kỳ 1,  Kỳ 2Kỳ 3

Vũ Thanh Hoa 1.2013

Không phải chỉ ở Sài Gòn khói bụi, mà gần như tại hầu hết các đô thị lớn nhỏ hôm nay, các phụ nữ trẻ ra đường thường bịt một khăn che mặt lớn biến thái từ khẩu trang. Có nàng còn diện thêm cặp kính mát. Người ta chỉ có thể diện kiến, nhìn rõ ánh mắt nhau những khi…thuận tiện ?

- Đang bàn chuyện thơ ca, có dính gì tới chiếc khăn che mặt ?

Xin thưa là: có chứ ! Bởi sau những chiếc khẩu trang lớn và đôi kính ấy, có rất nhiều…nhà thơ. Phụ nữ hôm nay, rất nhiều nàng thích làm thơ, và lại làm rất hay là khác. Chưa có nhiều vóc dáng lớn cho triển vọng là một Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan, hay những TTKH, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng..; chỉ một hai khuôn mặt (đa phần ở đất Bắc), thơ chưa lấy gì hay nhưng được báo chí lăng-xê, hay cố bộc lộ phong cách hiện sinh, thơ bốc mùi dục tính. Nhưng hiện tượng trên vẫn rất đáng mừng. Bởi, nếu thơ là tiếng nói từ con tim nhiều cảm xúc, thì người phụ nữ vẫn thường biểu hiện bằng ngôn ngữ rất thật. Khi ngồi viết ai cũng cởi khâu trang và kính mát.

Thật như nữ tính

Cho là tại âm thịnh dương suy, hay kết quả của việc tôn vinh nữ quyền gì gì đi nữa, thì người yêu thơ đúc kết ra được nguyên do của nhiều hiện tượng.

Đoàn Minh Châu

Mưa tháng Chạp

Em nghĩ về anh khi thành phố rả rích những đợt rét bất thường tháng Chạp
và giọng hát Thuỳ Dương rớt xuống sàn nhà nỗi buồn lung linh sáng
em đóng kín các ngõ ngách căn phòng
thành phố chao nghiêng ngoài kia
từng đợt
từng đợt
sóng sánh mưa rơi rơi như tóc

ngày giáp Tết ẩm mốc đống áo quần cũ kĩ không phơi hết nắng
mường tượng một vòng tay siết chặt ngực
trong giấc ngủ trễ nãi kéo dài vô tận
cơn mưa cứ rơi hoài hoài
những đêm em tự tử bằng nỗi buồn không duyên cớ

và buổi sáng
lại gặp nhau trong gương nỗi nhớ thâm thấm lạnh của ngày tháng cũ

mùa xuân rơi nơi nào trong mưa ngoài kia hả anh?
(25.1.08)

Đoàn Minh Châu đang sinh sống ở Đà Nẵng, làm ra bài thơ này lúc chừng tuổi khoảng 25, khi cô đã ra trường và đi làm. Thơ cô mới đầu chỉ in trên mạng, sau có tự xuất bản theo “Điều…của Hiến pháp”. Cảm xúc nhớ nhung về tình yêu rất thực, sâu xa và không vẩn đục : “mường tượng một vòng tay siết chặc ngực”. Người ta mừng là tình cảm của cô thiếu nữ trẻ có học, trong thời hiện đại vẫn đằm thắm, thiết tha như quy luật của muôn đời.

Một bài thơ khác cũng về đề tài tình yêu của một nhà thơ nữ khác, đang sống ở một thành phố biển:

Vũ Thanh Hoa

Lặng lẽ *

Em gieo bí mật vào gió
mùa đợi những hạt quên
lá nhuộm nửa thu vàng rưng rức
niêm phong một cái tên

em đóng cửa khứ hồi
những chiêm bao cũ
dấu xưa nhón bước ngược về
trên phố vắng những ảnh hình ẩn hiện
anh đâu ?

em quơ tay vào khói
vụn vỡ tiếng còi xe
anh biến vào chiếc máy bay trên đỉnh cao ốc
anh biến vào ô cửa chiếc taxi em không bao giờ nhớ số
anh biến vào màn hình laptop
anh biến vào chiếc điện thoại đơn thân

em mải mê tìm mùa thu không bao giờ thức dậy
nhặt huyền hoặc trong bóng lá

lặng lẽ
lẻ loi
từng hạt nhớ trổ mầm.

Bài thơ mang nhiều từ ngữ biểu hiện cuộc sống của thời “@” : cao ốc, laptop, điện thoại…nhưng người đọc nhận rõ là tình yêu không hề bị “số hóa”; vào thập niên đầu của thế kỷ 21, trong nhịp sống sôi động, cô thanh nữ vẫn nhớ nhung người yêu một cách rất thơ mộng, lặng lẽ, lẻ loi.
Vượt qua những giáo điều và các phương tiện văn minh của thời đại, tình yêu vẫn giữ được tính chất thơ mộng. Như vậy phải cảm ơn thơ ca lắm chứ !

Hai bài thơ trích dẫn trên đây là của những nhà thơ nữ còn rất trẻ.

Năm tháng lịch sử và bối cảnh xã hội nhất định góp phần tạo nên tích cách của con người, nhất là những người muốn diễn tả cảm xúc bằng các loại hình nghệ thuật. Tôi có quen một người bạn trung niên chuyên làm nghề “thợ đụng” ở Bảo Lộc. Anh không biết vì chưa được học cách ký âm, nhưng đã tự sáng tác một số bài nhạc để hát lên khi hứng khởi. Anh tâm sự lớp tuổi của anh chịu nhiều cảnh không may. Vào đời khoảng mấy năm sau 75, kiếm cái ăn, cái mặc rất gian nan nên cả thể xác và tinh thần đều không đủ tố chất của sự khôn lớn. Khi đất nước đi vào “mở cửa”, cơm áo ngày càng dễ thở hơn thì lớp người ít học như anh vẫn không thể làm ra nhiều tiền đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của con cái.
Tạm xếp cứ 10 năm là một thế hệ, ta thử nhìn vào các lớp cầm bút sáng tác. Sau 75, ở Miền Nam lớp thanh niên mới vào đời (thế hệ 6 X) được nhồi nhét quá nhiều suy nghĩ theo công thức và cách ứng xử thực dụng, nên nhiều người chê bai, phủ nhận những thành tựu của Văn học Miền Nam trước đó. Nhiều nhà văn, nhà thơ thành danh nhờ biết “nổ lực phấn đấu” chọn một dòng hay để nước trôi. Lớp người của của thế hệ này và lớp 7 X, sau khi đất nước bắt đầu mở cửa, những sự cấm cản về tinh thần được nới rộng, thì họ chính là những nhà “tiền phong” ứng dụng các trào lưu sáng tác đã bị phương tây loại bỏ. Họ cho rằng đó là mới, là “cách tân” vì đã loại bỏ hết di sản quý giá của nền văn học truyền trống. Thế hệ 8 X, rồi 9 X sau đó, lớn lên trong cuộc sống vật chất dần dễ dàng hơn, nhiều người đi du học nước ngoài, tiếp cận ngày càng nhiều với cuộc sống “số”. Nhưng học tiếp tục nhận ra những xung đột bế tắc về tư tưởng, của 2 nền văn minh đông và tây vẫn chưa được giải quyết. Nếu học ra để làm những con người máy, theo mệnh lệnh của lãnh đạo thì nhu cầu về tinh thần, về cái đẹp đích thực lại không có. Thôi thì quay lại tự nhiên, tự tìm ra những giá trị chân thật từ cuộc sống. “Bước ngoặc” ấy đáng mừng hay đáng lo ?

Tôi không hề có chủ định lao vào lãnh vực nghiên cứu hay tập viết “văn học sử” nên những bày tỏ trên đây có thể là rất chủ quan. Nhưng cứ nhìn vào thực tiễn thơ ca hôm nay, mỗi người sẽ vỡ lẽ ra nhiều diễn tiến của quy luật.

Tại Miền Nam những năm ’60 của thế kỷ 20, sau thời kỳ bùng nổ của “Thơ tự do” xuất phát từ nhóm “sáng tạo”, thế hệ những người tiếp theo, tiêu biểu từ Tạo chí Văn Nghệ, mỗi người tự tìm cách bức phá. Nhiều người đi lục tìm ngôn ngữ theo khuynh hướng “ca tụng thân xác” với những “ủ ê”, “rã rời” “bồn chồn”… sau cuộc giao hoan; người đi về khai thác tâm linh, cảm xúc của vũ trụ tràn ngập từ thời Thơ Mới vốn bị nhóm Sáng Tạo phủ nhận; người đi tìm các ngôn ngữ phản chiến, bày tỏ thái độ dấn thân, tôn sùng các trào lưu cách mạng từ Châu Mỹ La tinh… Nhờ tinh thần tự do khuyến khích tìm tòi nên Văn học Miền Nam ngày càng đa dạng.

Giữa thập kỷ 60, bỗng xuất hiện những bài thơ ngọt ngào, nói lên những tình cảm rất bình dị và chân thật của con người. Sau Nhất Tuấn là nhà thơ nữ Lệ Khánh với tiếng than “Em là gái trời bắt xấu”. Lê Khánh nổi lên như một hiện tượng, nhiều người cho đó là thơ “sến” nhưng số người đọc lại vượt trội. Xin mời các nhà có học vị nếu thích thì cứ nhảy ra làm thơ, xuất bản sách, xem thử sáng tác của họ có được yêu thích hay không !

Đáng mừng ?

Trong “bước ngoặc” mà các nhà thơ nữ trẻ có công đầu tiên khai mào, ở Việt Nam mới đây đã xuất hiện một hiện tượng bất ngờ : Tập thơ “Đi qua thương nhớ” của một chàng trai ngoài 30: Nguyễn Phong Việt ngay trong các đợt giới thiệu khi phát hành đã bán được hơn 3000 bản. Và đến nay theo công bố mới nhất của nhiều nơi phát hành, đã bán được hơn 13.000 bản.
Thơ anh đã ra sao mà bán chạy thế ? Tác giả đã không ngần ngại mời mọi người: “Với những ai chưa từng đọc thơ tôi, nếu được giới thiệu chỉ một bài trong tập thơ Đi qua thương nhớ, tôi mong gửi đến họ bài thơ Có một chiếc xích đu ở đâu đó trong cuộc đời. Với tôi, khi có thể ngồi đọc sách trên chiếc xích, dưới tán cây, bên bờ hồ – thế là bình yên và hạnh phúc”

Nguyễn Phong Việt

Có một chiếc xích đu ở đâu đó trong cuộc đời

Người ngồi đó và ao ước trong từng ấy tháng năm
thấy một người ngồi trên chiếc xích đu và đọc sách
chỉ như thế đã là hạnh phúc…
Chỉ như thế ngôi nhà mới có thể nhìn thấy nắng
chỉ như thế những ly tách mới có niềm vui chạm vào môi một người đang khát
chỉ như thế cánh cửa mới tin mình còn cần thiết
để chờ một bàn tay đến mở ra…
Chiếc xích đu được làm cạnh một giàn hoa
chiếc xích đu được làm dưới một tán cây ven hồ nhiều bóng mát
chiếc xích đu được làm bên một mái hiên nhà nhiều mưa và nắng
chiếc xích đu được làm trong tim một người không còn chỗ để yêu thương một ai khác
ngoài một con người…
Có những niềm vui giản dị như sự tự nhiên của cuộc đời
tự tay mình đưa xích đu cho người mình yêu thương trong chiều muộn
nhưng điều cỏn con với người này nhiều khi là cả một đời mong muốn
của một người tưởng chừng như không bao giờ biết rơi nước mắt
cho đến khi bắt gặp một tình yêu…
Đôi lúc sống một cuộc đời chỉ để chờ đợi một khoảnh khắc mà không hề biết trước là khổ đau
như chờ đợi một người đến ngồi trên chiếc xích đu ấy
như chờ đợi một cái nắm tay của đoạn đường sau cuối
như chờ đợi một nụ hôn mà nếu cần phải đánh đổi
bất cứ điều gì cũng cam tâm!
Người xây nên một ngôi nhà với những viên gạch lấy từ trái tim
những mùa trăng đi qua mà không dám ngủ
những đêm mưa không dám cựa mình vì sợ hơi ấm kia từ bỏ
những lúc cô đơn không dám khóc thành tiếng vì sợ chạm tay vào nỗi nhớ
những ngày dài thật dài…
Thà biết trước mình sẽ sống vì một người nào đó ngày mai
người có khi không phải thấy hối tiếc
người có khi làm cả triệu cái xích đu rồi đặt trên khắp các nẻo đường mà không cần biết
người mình yêu thương có chịu ngồi xuống hay không?
Ở đâu đó trong cuộc đời vẫn luôn có một chiếc xích đu treo trong lặng im
chờ một người đến ngồi và đọc sách…

Giọng thơ không mới, ngôn ngữ trong thơ không hề khoe chữ hay cao xa, bí hiểm. Thơ anh cũng không nhằm bày tỏ một “triết lý tư tưởng” nào như nhiều người vẫn quan niệm “có tư tưởng tiềm tàng mới làm thơ sống mãi với thời gian”. Anh chỉ diễn tả những cảm xúc rất thực trong những khoảnh khắc rất thường tình trong cuộc sống bằng lời thơ thủ thỉ mang âm điều tâm tình rất ngọc ngào.

Trong bài thơ “Là những khi”, anh nói về cách sống của mình- “Sống như mong muốn sống thật lòng” :

“Là những khi mệt mỏi mà không dám cúi xuống vì sợ lòng đánh rơi một giọt nước mắt

Là những khi cô đơn mà không dám nói ra một lời vì sợ trái tim mình tan nát

Là những khi bình yên mà không biết làm cách nào giữ trên môi một tiếng cười thanh thoát

Là những khi ngơ ngác không biết mình là ai…

Chúng ta đến trong cuộc đời và điều đầu tiên xin từ chối là những đắng cay

Bản năng đâu dạy con người biết yêu thương những điều mất mát

Nên đi qua một bình minh thì cảm ơn bình mình vừa tắt

Đi qua một ngày mưa thì cảm ơn một ngày mưa nhiều mưa xám

Sống như mong muốn sống thật lòng!”

Chợt nhớ là Nguyễn Bính từ trước 1945 cũng đã dùng những ngôn ngữ rất thật lòng khi viết “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn/ Hai người sống giữa cô đơn/ Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi/ Giá đừng có giậu mồng tơi…”

Hình như không có một công thức hay hình mẫu nào để khẳng định về cái hay, vẻ đẹp của thơ ca. Những dòng thơ mộc mạc mà chân thành ấy liệu có tồn tại trong sự thử thách của thời gian không ? Có người cho rằng “Và hơn ai hết, anh đang góp phần chứng minh rằng thơ vẫn có sức sống mãnh liệt bằng tâm thể và vẻ đẹp riêng mình giữa thời đại bùng nổ nhiều loại hình công nghệ giải trí…” *

Bước ngoặc quay về với những cảnh tượng, cảm xúc nhỏ nhoi nhưng có thật trong đời sống mỗi người qua biểu hiện của các nhà thơ mới, nam cũng như nữ là điều rất đáng mừng. Sau đó, xu hướng sáng tác có thể thay đổi, nhưng giá trị về sự chân thực trong đời sống là điều đã được khẳng định.

Đi qua những bãi hoang, núi đồi, cạnh các dòng sông, chúng ta gặp rất nhiều loài hoa đang nở. Có loài không có hương thơm nhưng với các nhà nuôi ong rất quý vì nó bí mật chứa nhiều phấn, con ong vẫn tìm tới để tha về nuôi đàn khi các loài hoa nhiều mật đã cạn. Hoa có còn không là tùy thuộc vào những dòng chảy của sông và những mạch ngầm đang giữ nước để nuôi cây…

Võ Chân Cửu

(*) : Trích từ tập thơ nhiều tác giả “Bởi vì ta yêu nhau” do Công ty sách Phương Nam liên kết xuất bản và phát hành, tháng 2-2013.

http://www.gio-o.com/VoChanCuu.html

Nguồn:  gio-o.com 2013