Học VănNhàn đàm Văn chương

Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – Một cách nhìn (1)

1. Thực tiễn văn học từ sau thời kỳ đổi mới cho thấy có hàng loạt cuốn tiểu thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của các tác giả hải ngoại. Như vậy tiểu thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày càng nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng như “giá trị tiềm ẩn” của thể loại trong tương lai.

Trong thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật, Việt Nam cũng như ở nước ngoài luôn song hành các tác phẩm viết theo thi pháp truyền thống và hiện đại. Mỗi xu hướng sáng tác đều có chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận của riêng mình cũng như đều có những thành công và hạn chế. Do vậy không vì cổ xuý cách tân mà khước từ truyền thống và cũng không vì truyền thống mà dị ứng với cái mới. Xét cho cùng, khi viết theo thi pháp truyền thống người viết cũng đã nỗ lực đổi mới về nội dung cũng như ở nghệ thuật trần thuật.

Nhìn chung, những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải nghiệm của đời sống con người. Về mặt tự sự, nó hấp dẫn người đọc trước hết bằng nội dung chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống của một nhân vật mang tính cách giống hay khác với họ. Tính thẩm mỹ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyện mạch lạc, lôi cuốn. Về cấu trúc, tiểu thuyết truyền thống dựa trên một cốt truyện, thu hút sự chú ý của người đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc có hậu, trả độc giả về với “trật tự quen thuộc của đời sống”.

Với những tiểu thuyết viết theo hướng hiện đại đã cho thấy hiện thực là phong phú, phức tạp và không thể hoặc khó có thể “kể lại” được. Ở đây, tiểu thuyết không làm sứ mệnh cung cấp một bức tranh hiện thực về xã hội mà phải “phát minh ra các hình thức”. Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và những gì ở ngoài văn học bị cắt đứt hoặc bị lui lại phía sau; và chỉ còn lại hai mối quan hệ chính: quan hệ giữa tác phẩm văn học với chính nó và quan hệ giữa tác phẩm văn học này với những tác phẩm văn học khác. Tiểu thuyết viết theo xu hướng này có thể còn xa lạ, đánh đố, thậm chí “gây hấn” với độc giả nhưng nó đã mở ra một triển vọng mới cho tiểu thuyết và cho sự tiếp nhận mới của người đọc hiện đại.

2. Sự mở rộng biên độ, đa dạng hóa trong cái nhìn thế giới và con người là một trong những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết từ sau 1986 đến nay. Thực tế cuộc sống ở một thời kỳ mới đã dẫn đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực. Một tư duy văn học mới được hình thành và nhu cầu về đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trở nên bức thiết. Xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về với con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của con người trước sự lãng quên của xã hội. Con người cô đơn, con người thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tiểu thuyết gia đương đại.

Có thể nói, tiểu thuyết là “công cụ hữu hiệu” của văn học để tái hiện lịch sử theo nhãn quan người viết và tiểu thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả số phận con người. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà tiểu thuyết đã khắc hoạ khá đầy đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời người gắn với những biến động của lịch sử, với những thăng trầm của đời sống xã hội: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Dòng sông mía (Đào Thắng), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Cõi mê (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn), Tấm ván phóng dao (Mạc Can) Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Ba người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng)… Các nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời người, một thân phận trong hành trình của thế kỷ XX gắn với chiều dài lịch sử qua bao cuộc “bể dâu”. Mỗi tiểu thuyết là một cách khai thác sâu hơn về cõi người, cõi đời để đạt được một tầm sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh.
Các tiểu thuyết nói trên đều hướng tới hệ quy chiếu, đó là thế giới riêng của những con người chịu nhiều nếm trải cay đắng, thấm đẫm sắc thái bi hài của số phận. Hơn nữa, tiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con người Việt Nam ở hải ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T. mất tích (Thuận), Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai), Gió từ thời khuất mặt (Lê Minh Hà), Thảo (Võ Hoàng Hoa), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Quyên (Nguyễn Văn Thọ)… Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thể loại, làm cho diện mạo tiểu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộc đời và con người trong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn.

3. Hiện thực đời sống con người với những tâm tư, khát vọng, những bi kịch riêng tư chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài được các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều sâu mới. Trong những năm gần đây nhiều tiểu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc giả: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng). Tìm đến chất liệu cái tôi, các nhà văn như trở về với chính mình. Với tiểu thuyết tự truyện, cốt truyện được xây dựng trên cơ sở của sự kiện chính về cuộc đời, về con người tác giả. Điều đáng nói ở đây là trí nhớ, sự hồi tưởng, ký ức không lấn át yếu tố hư cấu. Với loại hình tiểu thuyết này, việc đảm nhiệm chức năng tái tạo lại một đoạn đời của người viết được tổ chức theo nhiều kiểu kết cấu khác nhau, đặc biệt đi sâu vào khai thác dòng ý thức mà thành công nổi bật ở Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh).
Có thể nói, tiểu thuyết tự truyện không có gì mới lạ với văn học thế giới nhưng là một loại hình khá mới mẻ với văn học Việt Nam, và nó đã gây được tiếng vang với người đọc. Đây là xu hướng được nhận định là sẽ phát triển, như một ý kiến cho rằng: “Tiểu thuyết tự thuật đã và đang đăng đàn, rồi sẽ chiếm một ngôi vị đáng kể trong nền tiểu thuyết đương đại nước nhà”.

(Còn nữa)

BÍCH THU
Nguồn: VNQĐ
Theo Vanchuong+ 

Comments (1)

  1. Về cấu trúc, tiểu thuyết truyền thống dựa trên một cốt truyện, thu hút sự chú ý của người đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc có hậu, trả độc giả về với “trật tự quen thuộc của đời sống”.
    (Bích Thu)
    ___________
    Một tiểu thuyết hay và giá trị là ở chỗ nó trình bày một hòan cảnh mà mỗi người đọc tìm thấy mình là một phần của nó.
    Tiểu thuyết truyền thống theo cách gọi của tác giả Bích Thu chưa hẳn là phải “đi tới một kết thúc có hậu” như tác giả nói. Tiểu thuyết truyền thống nó không quẩn quanh những chuyện vụn vặt như tác giả Bích Thu quan niệm.
    Một tiểu thuyết có gía trị luôn trình bày một vấn đề lớn hơn nhiều. Chẳng hạn tác phẩm Đọan Tuyệt của cố văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, chỉ trong một đọan văn ngắn độ vài trăm chữ nói về nhân vật Dũng ngồi trên đồi trong một buổi chiều cuối năm, nhưng với vài trăm chữ đó, cố văn hào Nhất Linh đã dẫn dắt người đọc hiểu thế nào là dân tộc, là lịch sử _ lịch sử được viết nên từ người dân hèn mọn không tên không tuổi, sống lầm lũi nơi chốn quê nghèo nhưng chính họ chứ không phải ai khác đã làm nên lịch sử.
    Với một ngòi viết lớn thì luôn có tư tưởng lớn.

Comment here