VTH – Thế giới công nghệ càng phát triển, kinh tế thị trường càng xâm thực đời sống thì văn hóa đỉnh cao ngày càng bị pha loãng… Điều này được Pierre Bourdieu phân tích vô cùng nghiêm túc và cụ thể tại bài viết sau, mời bạn đọc cùng vuthanhhoa.net:

Pierre Bourdieu

Pierre Bourdieu (1930 – 2002)

LTS:  Pierre Bourdieu là một nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Pháp cũng như ở các nước khác trên thế giới. Qua các công trình nghiên cứu của mình, với các khái niệm như tập tính, trường, bạo lực biểu trưng,  Bourdieu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa và biểu trưng, đồng phê phán kịch liệt sự xâm lăng của “cơ chế thị trường” vào lĩnh vực văn hóa. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài tham luận mà nhà xã hội học này đã trình bày tại Diễn đàn quốc tế về văn học, được tổ chức tại Seoul từ ngày 26 đến 29 tháng 9 năm 2000 và đã được in trong cuốn Contre-feux 2 dưới nhan đề “Văn hóa lâm nguy” (la culture en danger).

VĂN HÓA LÂM NGUY

Tôi đã thường cảnh báo ý đồ và tham vọng của các chuyên gia khoa học xã hội khi họ lôi ra những tệ nạn của ngày hôm nay và của mai sau để mà lên án. Tôi đã phải vượt qua những giới hạn mà mình đã tự xác định nhân danh ý niệm về tính khách quan mà dần dà bản thân tôi thấy như một hình thức kiểm duyệt. Chính vì thế mà ngày nay, trước những nguy cơ đang đè nặng lên nền văn hóa, những nguy cơ mà rất nhiều người không hay biết, kể cả những nhà văn, nghệ sĩ và học giả là những người liên quan đầu tiên, tôi thấy cần thiết phải cho phổ biến thật rộng rãi, càng rộng rãi càng tốt, cái mà theo tôi là giác độ nghiên cứu tiến bộ nhất về hậu quả của cái được gọi là toàn cầu hóa đối với văn hóa.

Sự tự trị bị đe dọa

Tôi đã miêu tả và phân tích (nhất là trong cuốn sách Quy tắc nghệ thuật của tôi) tiến trình tự trị hóa lâu dài và kết cục của nó là sự hình thành, trong một số nước phương Tây, những thế giới xã hội thu nhỏ mà tôi gọi là những trường, trường văn học, trường khoa học hay trường nghệ thuật; tôi đã chỉ ra rằng những vũ trụ này tuân theo những quy luật riêng của chúng (đây là nguyên nghĩa của khái niệm tự trị), khác với những quy luật của thế giới xã hội xung quanh, nhất là về phương diện kinh tế, ví như trường văn học hay trường nghệ thuật thường tránh được quy luật về tiền và lợi nhuận, ít nhất là trong lĩnh vực tự trị của chúng. Tôi cũng đã luôn nhấn mạnh về việc tiến trình này không phải là một kiểu phát triển tuyến tính và được định hướng theo kiểu Hégel, và quá trình hướng tới tính tự trị có thể  bị gián đoạn, bất ngờ, như chúng ta đã từng chứng kiến điều đó mỗi khi mà các chế độ độc tài được thiết lập, những chế độ có khả năng cắt đứt những thế giới nghệ thuật với những cuộc chinh phục trong quá khứ của chúng. Nhưng, trong các nước phát triển, điều đang xảy ra ngày hôm nay với thế giới sáng tạo nghệ thuật là cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, và thực sự chưa bao giờ có trong lịch sử: quả như vậy, sự độc lập trong việc sáng tạo và lưu hành các sản phẩm văn hóa trước những đòi hỏi về kinh tế, một sự độc lập khó khăn lắm mới có được, giờ đang bị đe dọa, ngay trong nguyên lý của mình, bởi sự thâm nhập của logic thương mại vào mọi giai đoạn sáng tạo và phát hành các sản phẩm văn hóa.

Các nhà tiên tri tân phúc âm theo chủ-nghĩa-tự-do-mới tuyên bố rằng, về văn hóa cũng như về các lĩnh vực khác, cơ chế thị trường chỉ mang lại ích lợi mà thôi. Một mực không thừa nhận tính đặc thù của các sản phẩm văn hóa một cách tường minh hay hàm ẩn, ví như về sách chẳng hạn (họ không chịu chấp nhận bất cứ hình thức bảo hộ nào), họ khẳng định, chẳng hạn, rằng những thành tựu mới mẻ về khoa học công nghệ và sự đổi mới về kinh tế vốn khai thác tối đa những thành tựu đó sẽ chỉ có thể làm tăng số lượng và chất lượng của các sản phẩm văn hóa, và như vậy làm tăng luôn cả mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng, dĩ nhiên với điều kiện tất cả những gì được những tập đoàn truyền thông tích hợp cả công nghệ và kinh tế cho lưu hành, có nghĩa là vừa cả các thông điệp truyền hình cũng như sách vở, phim ảnh, trò chơi, thường được gộp dưới cái tên thông tin, được xem như một thứ hàng hóa nào đó, và do vậy được đối xử như bất cứ sản phẩm nào, và tuân theo quy luật lợi ích kinh tế. Như vậy, việc phát triển ồ ạt của các kênh truyền hình kỹ thuật số theo chủ đề hẳn đã kéo theo sự “bùng nổ của truyền thông tự chọn” (explosition of media choices”) đến mức tất có thể nói cầu được ước thấy, mọi nhu cầu và thị hiếu dường như đều được đáp ứng: kể cả về những mặt này, quy luật lợi nhuận sẽ mang tính dân chủ, vì nó thừa nhận những sản phẩm được số đông yêu thích. Tôi có cỡ hàng chục trích dẫn, đôi khi được sử dụng nhiều lần, để làm cơ sở cho những khẳng định của tôi. Ví dụ duy nhất, đúc kết được những gì tôi vừa nói, được mượn của Jean-Marie Messier: “Hàng triệu công ăn việc làm đã được tạo ra ở Mỹ  nhờ vào sự giải phóng toàn bị lĩnh vực viễn thông và nhờ vào công nghệ tuyền thông. Nước Pháp phải học theo Mỹ về lĩnh vực này! Tính cạnh tranh của nền kinh tế và công ăn việc làm của con em chúng ta đang bị thử thách. Chúng ta phải thoát khỏi sự sợ sệt, ra sức cạnh tranh và sáng tạo.”

Những lập luận này có giá trị gì? Trái ngược với huyền thoại về sự đa dạng, phong phú của các sản phẩm là sự đồng nhất các sản phẩm, ở bình diện quốc gia cũng như quốc tế: sự cạnh tranh không đa dạng hóa mà đồng nhất hóa, ý đồ khai thác tối đa người tiêu dùng đã đưa các nhà sản xuất đến việc tìm kiếm các sản phẩm tàu chợ, có giá trị cho mọi thành phần công chúng và cho mọi quốc gia, bởi vì không được đa dạng hóa và góp phần đa dạng hóa, ví như phim ảnh Hollywood, telenovelas, phim truyền hình dài tập, soap opéras, phim trinh thám nhiều tập, nhạc thương mại, kịch đại lộ hay kịch Broadway, sách bán chạy (best-sellers) được phát hành khắp thế giới, tuần báo dành cho mọi đối tượng. Ngoài ra, sự cạnh tranh, với sự tập trung của bộ máy sản xuất và lưu hành, đang tuột dốc không phanh: nhiều hệ thống truyền thông đang có xu hướng phát hành cùng thời điểm một loại sản phẩm được ra đời từ sự tìm kiếm lợi nhuận tối đa với những đầu tư tối thiểu. Sự tập trung các tập đoàn truyền thông dẫn đến sự sát nhập theo phương thẳng đứng, như thể phát hành đi trước sản xuất theo sau, áp đặt một sự kiểm duyệt bằng tiền thuần túy. Có thể lấy ví dụ như sự sáp nhập mới đây giữa Viacom và CBS, một tập đoàn hướng tới việc sản xuất nội dung và một tập đoàn hướng tới việc phát hành. Sự tích hợp các hoạt động sản xuất, khai thác và phát hành kéo theo sự lạm dụng cậy quyền cậy thế, tạo điều kiện thuận lợi cho phim nhà phát triển: Gaumont, Pathé và UGC đã chiếu 80% phim độc quyền có mặt trên thị trường Paris: cũng cần phải nêu ra đây sự phát triển rầm rộ của các cụm rạp chiếu bóng (multiplexe), hoàn toàn phục tùng các yêu sách của các nhà phát hành phim. Các nhà này cạnh tranh bất chính với các rạp chiếu phim nhỏ và độc lập, thường có nguy cơ phải đóng cửa.

phố

Thế nhưng điều quan trọng nhất, đó là sự coi trọng doanh thu, việc tìm kiếm lợi nhuận tối đa trong thời gian sớm nhất và tính “thẩm mỹ” từ đó mà có càng ngày càng có một sự chi phối rộng rãi lên tất cả mọi sản phẩm văn hóa. Hậu quả của chính sách như vậy hoàn toàn giống với những hậu quả gặp phải trong lĩnh vực xuất bản, lĩnh vực này cũng có sự tập trung quyền lực rất cao: ví dụ như ở Mỹ,  ngoài hai nhà xuất bản độc lập: W.W. Norton và Houghton MIFFLIN, một vài tạp chí đại học (càng ngày càng chịu chi phối bởi nhu cầu tài chính) và một số nhà xuất bản nhỏ có tinh thần “chiến đấu”,  việc kinh doanh sách nằm trong tay tám tập đoàn truyền thông khổng lồ. Không chút lập lờ, một số nhà xuất bản phải hướng đến doanh thu, và hậu quả, bên cạnh các hậu quả khác, là sự xâm lấn của các ngôi sao truyền thông trong giới tác giả và sự kiểm duyệt qua đồng tiền. Điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ, vì được sát nhập vào các tập đoàn đa phương tiện lớn, các nhà xuất bản phải đạt được lợi suất rất cao. (Tôi có thể nêu ra ở đây M. Thomas MIDDLEHOFF, Tổng giám đốc Bertelsman. Theo báo La Tribune, ông này đã “cho các trung tâm lợi nhuận 2 năm để kiếm ra được hơn 10% lợi nhuận so với số vốn được đầu tư.) Làm gì mà không thấy được rằng cơ chế lợi nhuận, nhất là cơ chế kiếm lời ngắn hạn, là sự phủ nhận sạch trơn giá trị văn hóa, vốn đòi hỏi những đầu tư mạo hiểm, công toi, không biết bao giờ hoàn bổn, và thường chết rồi thì vốn mới hoàn nguyên?

Điều đáng bàn ở đây là việc tiếp tục cho ra những sản phẩm văn hóa không hướng tới mục đích thương mại thuần túy và không chấp nhận những phán quyết của những người đang làm mưa làm gió trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, nhất là bằng quyền lực mà họ đang nắm giữ đối với các phương tiện truyền thông lớn. Quả vậy, một trong những khó khăn trong cuộc chiến này, đó là sự tồn tại khả thể những vẻ bề ngoài phản dân chủ, trong khi việc sản xuất ồ ạt các sản phẩm văn hóa công nghiệp được đại đa số công chúng ủng hộ, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi trên thế giới vì họ tiếp cận dễ dàng hơn (việc tiêu thụ các sản phẩm này không cần nhiều vốn văn hóa) và cũng bởi vì họ là đối tượng của hiện tượng đua đòi phản cảm: đúng như thế thật, lần đầu tiên trong lịch sử, các sản phẩm văn hóa đại chúng rẻ tiền nhất lại được coi như là những sản phẩm thời thượng trong một xã hội mà kinh tế và chính trị đóng vai trò thống soái; những thanh thiếu niên mặcbaggy pants,quần dài có đụng trễ xuống ngang đùi, hẳn không biết rằng thời trang mà họ cho là siêu thời thượng, siêu hiện đại ấy đã ra đời trong các nhà tù Mỹ, giống như sở thích chạm trổ vậy! Điều này có nghĩa là “văn minh” quần jean, Coca-Cola, McDonald’s không những có quyền lực kinh tế mà còn có quyền lực biểu trưng. Quyền lực biểu trưng ở đây được thực thi qua một sự lôi cuốn mà bản thân các nạn nhân có góp phần vào tạo nên. Khi biến trẻ em, thanh thiếu niên, nhất là những em không có hệ miễn dịch riêng, thành mục tiêu ưu tiên cho chính sách thương mại, với sự hỗ trợ của quảng cáo và truyền thông, vừa bị ép buộc nhưng cũng vừa là tòng phạm, các doanh nghiệp lớn chuyên sản xuất và phát hành các sản phẩm văn hóa, đặc biệt là điện ảnh, có ảnh hưởng cực lớn, chưa bao giờ có trong lịch sử, đối với xã hội đương đại trong đó mỗi cá thể như bị trẻ con hóa.

Như Gombrich nói, khi “điều kiện sinh thái nghệ thuật” bị tàn phá thì sớm muộn gì nghệ thuật cũng sẽ chết. Văn hóa đang bị đe dọa bởi vì môi trường kinh tế, xã hội trong đó văn hóa có khả năng phát triển đang bị chi phố bởi logic lợi ích kinh tế trong các nước phát triển, những nước mà vốn tích lũy, điều kiện cho việc tự chủ, đã là rất lớn, huống chi là các nước khác. Các thế giới thu nhỏ tương đối độc lập, các thế giới trong đó văn hóa được sản sinh, phải phối hợp với hệ thống giáo dục để sinh ra người sản xuất và kẻ tiêu thụ. Các họa sĩ đã mất gần năm thế kỷ để chinh phục những điều kiện xã hội mà một họa sỹ như Picasso đã được thừa hưởng; họ đã phải – chúng ta biết điều này qua việc đọc các bản kế ước – đấu tranh chống lại những “nhà tài trợ” để tác phẩm của họ được cư xử như một sản phẩm đơn thuần, được đánh giá trên cơ sở diện tích được vẽ và giá cả các màu sắc được sử dụng; họ đã phải đấu tranh để có được quyền được ký, có nghĩa là quyền được đối xử như là những tác giả. Họ đã phải đấu tranh để được quyền chọn lựa màu sắc, cách sử dụng màu sắc và cuối cùng, nhất là với nghệ thuật trừu tượng, quyền được lựa chọn chủ đề, mà thường thì quyền lực của nhà tài trợ đè nặng lên sự lựa chọn này. Những nghệ sĩ khác, nhà văn hay nhạc sĩ, đã phải đấu tranh để mới đây thôi có được quyền tác giả; họ đã phải đấu tranh cho tính độc sáng và chất lượng của tác phẩm. Họ chỉ nhờ sự cộng tác của các nhà phê bình, nhà viết tiểu sử, các giáo sư lịch sử nghệ thuật v.v… để tự khẳng định như những nghệ sĩ, như những “nhà sáng tạo”. Cũng như vậy, người ta không thể liệt kê ra hết những điều kiện xuất hiện những tác phẩm điện ảnh mang tính học thuật và công chúng để thưởng thức và đánh giá những tác phẩm này: đơn cử như những tạp chí chuyên ngành và các nhà phê bình để làm cho những tạp chí này sống được, những rạp chiếu phim, những viện tư liệu phim chiếu những bộ phim nghệ thuật cho sinh viên, những câu lạc bộ điện ảnh với sự góp sức của những người hâm mộ điện ảnh làm việc từ thiện, những người làm phim sẵn sàng hi sinh tất cả để sản xuất ra những bộ phim không “mì ăn liền”, những nhà phê bình tài giỏi, những nhà sản xuất có đủ thông tin và tri thức để tài trợ cho những câu lạc bộ đó. Nói tóm lại, đó là một thế giới thu nhỏ trong đó điện ảnh tiên phong được công nhận, có giá trị và đang bị đe dọa bởi sự xuất hiện ồ ạt thứ điện ảnh thương mại, và nhất là với sự thống trị của những đại gia phát hành phim: khi mà các nhà sản xuất không thể tự mình phát hành phim thì phải trông cậy vào những đại gia này. Vậy nên, tất cả những thứ đó ngày nay đang bị đe dọa qua việc quy giản một tác phẩm thành một sản phẩm, một hàng hóa. Cuộc chiến của các nhà điện ảnh để hoàn thành bộ phim của mình và chống lại ý đồ chiếm đoạt quyền sở hữu tác phẩm của nhà sản xuất cũng y hệt cuộc chiến của họa sĩ thuộc trào lưu văn nghệ Quattrocento.

6

Là thành quả của một quá trình trỗi dậy, tiến triển, những thế giới tự trị này giờ đang đi vào một tiến trình đơn hóa(involution): chúng là nơi tụt hậu, thoái lui, tác phẩm chuyển thành sản phẩm, tác giả biến thành kỹ sư hay kỹ thuật viên, những kẻ áp dụng những phương tiện kỹ thuật không phải do mình sáng tạo ra, chẳng hạn như kỷ xảo, hay những ngôi sao nổi tiếng mà các tạp chí phát hành rộng rãi thường tung hô nhằm thu hút số đông người đọc. Mà người đọc thì chưa đủ trình độ để tiếp nhận các nghiên cứu đặc thù, thường mang tính hình thức. Nhất là họ phải sử dụng các phương tiện cực kỳ tốn kém này để hướng tới những mục đích thuần túy thương mại, tức là tổ chức các phương tiện đó một cách có thể nói là vô liêm sỉ, nhằm thu hút càng đông khán giả càng tốt bằng cách thỏa mãn những xung năng sơ đẳng của họ, những xung năng mà các kỹ thuật viên khác, các chuyên gia marketing có thể thấy trước. Chính vì thế mà mà chúng ta cũng thấy xuất hiện, trong mọi lĩnh vực (chúng ta có thể tìm thấy những ví dụ khác trong lĩnh vực tiểu thuyết hay điện ảnh, thậm chí trong thơ ca với cái mà Jacques Roubaud gọi là “thơ thập cẩm” (poésie muesli), những sản phẩm văn hóa giả tạo. Những sản phẩm này thậm chí còn bắt chước y xì những thành tựu tiên phong bằng cách bắt chước những mánh khóe truyền thống để tạo ra những sản phẩm văn hóa. Những sản phẩm này, vì tính mơ hồ, nước đôi của chúng, có thể nhờ hiệu ứng allodoxia (nhầm lẫn) để đánh lừa các nhà phê bình và những người tiêu dùng cứ nghĩ mình là tân thời chủ nghĩa.

Chúng ta thấy sự lựa chọn giữa “toàn cầu hóa”, được hiểu như sự tuân theo cơ chế thị trường, tức là tuân theo sự thống ngự của “tính thương mại”. Mà tính thương mại thì ở đâu, thời kỳ nào cũng đi ngược lại cái mà người ta gọi là văn hóa và việc giữ gìn các nền văn hóa dân tộc hay một hình thức chủ nghĩa dân tộc văn hóa đặc thù nào đấy. Những sản phẩm vô vị thuộc trào lưu “toàn cầu hóa” thương mại, ví dụ như phim hoành tráng, nặng về kỷ xảo, hay “phim truyện thế giới” (world fiction) mà tác giả có thể là người Ý, người Ấn Độ, người Anh hay người Mỹ đối lập về mọi mặt với Quốc tế văn chương, nghệ thuật và điện ảnh, hội mà trung tâm của nó có thể ở bất cứ nơi đâu, cho dù đã ngự rất lâu tại Paris. Như Pascale Casanova đã chỉ ra trong Cộng hòa văn chương thế giới, “Quốc tế phi dân tộc hóa của những người sáng tạo”, những Joyce, Faulkner, Kafka, Beckett hay Gombrowicz, những đứa con máu mủ của Ailen, Mỹ, Tiệp Khắc hay Ba Lan nhưng lại được sinh ra ở Paris, hay những Kaurismaki, Mauel de Oloveira, Satyajit Ray, Kieslowsky, Kiarostami và biết bao nhiêu những nhà làm phim đương đại đến từ các nước trên thế giới mà mỹ học Hollywood không hề biết, không thèm biết, hẳn họ sẽ chẳng bao giờ tồn tại nếu không có truyền thống quốc tế chủ nghĩa về nghệ thuật, và cụ thể hơn, nếu không có thế giới thu nhỏ của những nhà sản xuất, nhà phê bình và những người tiếp nhận có trình độ. Vũ trụ thu nhỏ này rất cần thiết cho sự sống còn của nghệ thuật chân chính. Được thiết lập từ lâu, vũ trụ đó đã sống sót ở một số nơi không bị ảnh hưởng bởi sự xâm lăng của kinh tế.

(Còn tiếp)

Séoul, tháng 9 năm 2000.

Nguyễn Duy Bình (dịch) 

Nguồn: phebinhvanhoc

>> Văn hóa lâm nguy (2) – Pierre Bourdieu