>> Văn hóa lâm nguy (1) – Pierre Bourdieu

166

Vì một chủ nghĩa quốc tế mới 

Bất chấp vẻ bề ngoài, truyền thống chủ nghĩa quốc tế đặc thù về lĩnh vực văn hóa này đối lập cơ bản với cái mà người ta gọi là “toàn cầu hóa”. Khái niệm “toàn cầu hóa” vận hành như một mật khẩu, một khẩu hiệu và như một mặt nạ thuyết minh chính sách phổ cập hóa những lợi ích và truyền thống đặc thù của các thế lực thống trị về mặt kinh tế và chính trị, đặc biệt là Mỹ, và nhằm phổ biến khắp thế giới mô hình kinh tế và văn hóa có lợi nhất cho các thế lực này, bằng cách đồng thời đưa ra mô hình này như một chuẩn mực, như một lẽ sống (devoir-être) và như một định mệnh, một số phận mang tính phổ quát, làm thế nào đó để mà đạt được một sự gia nhập hay chí ít là một sự nhẫn nhục chấp nhận mang tính toàn cầu. Có nghĩa là, về mặt văn hóa, nhằm phổ quát hóa, bằng cách áp đặt trên toàn thế giới, những đặc trưng của một truyền thống văn hóa trong đó cơ chế thương mại đã có được sự phát triển toàn vẹn. (Trên thực tế, sức mạnh của logicthương mại nằm ở chỗ, ngoài thì trông có vẻ hiện đại tiến bộ nhưng trong chỉ là hậu quả của hình thức thả nổi căn bản, đặc trưng cho một trật tự xã hội phó mặc cho logic quyền lợi và nhu cầu trước mắt được chuyển đổi thành nguồn lợi nhuận. Các trường sản xuất văn hóa, vốn được thiết lập một cách trình tự và phải chịu nhiều hy sinh lớn lao, thì tỏ ra rất yếu ớt trước sức mạnh công nghệ kết hợp với sức mạnh kinh tế: quả thế thật, ngày nay, giống như những trí thức truyền thông đại chúng và các nhà sản xuất hàng best-sellers, những người chấp nhận đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và hưởng lợi về mặt kinh tế và quyền lực biểu trưng thì luôn đông hơn và có thế lực hơn về mặt vật chất so với những người không hề nhượng bộ bất cứ nhu cầu nào của khách hàng, nghĩa là sản xuất cho một thị trường không tồn tại.)

Những ai gắn bó với truyền thống chủ nghĩa quốc tế văn hóa này, những nghệ sĩ, nhà văn, nhà nghiên cứu hay những nhà xuất bản, giám đốc nhà trưng bày, nhà phê bình của các nước trên thế giới, ngày nay phải tập trung lại để mà hành động vào thời điểm mà sức mạnh kinh tế, vốn có xu hướng bắt quy trình sản xuất và phát hành các sản phẩm văn hóa phải tuân theo quy luật lợi nhuận trước mắt, có sự tăng viện rất lớn từ các chính sách gọi là chính sách mở rộng tự do mà các thế lực kinh tế và văn hóa thống trị hòng áp đặt trên toàn cầu dưới vỏ bọc của “toàn cầu hóa.” Ở đây, bất đắc dĩ tôi phải nhắc đến những thực tế tầm thường vốn không có chỗ đứng trong tập thể các nhà văn… Dẫu biết rằng tôi có vẻ như đang nói gở, đang phóng đại những mối nguy cơ mà những biện pháp tự do mới đang đè nặng lên văn hóa. Tôi nghĩ đến Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (AGCS) mà nhiều quốc gia khác nhau đã tán thành bằng cách gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Như nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt Lori Wallach, Agnès Bertrand và Raoul Jennar, đã chỉ ra điều đó, hiệp định này buộc 136 nước thành viên phải chấp nhận một điều rằng tất cả các dịch vụ của mình phải tuân theo quy luật tự do trao đổi hàng hóa và như vậy tạo điều kiện cho việc biến tất cả các hoạt động dịch vụ, kể cả các hoạt động đáp ứng các quyền cơ bản là giáo dục và văn hóa, thành hàng hóa và thành nguồn lợi nhuận. Chúng ta thấy dường như không còn khái niệm dịch vụ công và các thành quả xã hội cũng mang tính quyết định như việc tất cả mọi người được tiếp cận với giáo dục miễn phí và với văn hóa theo nghĩa rộng (quả thế, nhờ vào việc đặt lại vấn đề về các phân loại hiện hành, biện pháp này dường như cũng được áp dụng cho các dịch vụ như nghe nhìn, thư viện, lưu trữ, bảo tàng, vườn bách thảo, vườn thú và tất cả các dịch vụ liên quan đến giải trí như nghệ thuật, kịch nói, phát thanh, truyền hình, thể thao, v.v…) Chương trình đó có ý xem các chính sách của các quốc gia (liên quan đến việc bảo tồn đặc trưng văn hóa dân tộc và qua đó nhằm cản trở công nghiệp văn hóa xuyên quốc gia) là những “trở ngại cho kinh tế”. Làm sao mà không thấy rằng hậu quả của chương trình này chính là cấm phần lớn các quốc gia, đặc biệt là các nước ít tiềm năng kinh tế và văn hóa, được quyền hy vọng phát triển theo đặc thù dân tộc và đặc thù địa phương và bảo đảm sự đa dạng văn hóa cũng như sự đa dạng trong các lĩnh vực khác? Nhất là chương trình đó lại buộc các biện pháp quốc gia, các quy định nội bộ, các khoản trợ cấp cho các cơ quan, thể chế v.v… phải tuân theo những bản án của một tổ chức đang cố đáp ứng những đòi hỏi của các thế lực kinh tế xuyên quốc gia bằng một chuẩn mực toàn cầu.

shadow1a

Sự tai ác của chính sách này thể hiện trong một hậu quả kép: trước hết, chính sách này được bảo vệ chống lại giới phê bình và sự phản đối của công chúng bằng cách giữ bí mật cho những người đẻ ra nó, sau nữa, nó có rất nhiều hệ lụy, đôi khi có mong muốn, mà những người phải chịu những hệ lụy đó không thấy vào thời điểm chính sách được thực thi. Những hệ lụy này chỉ xuất hiện khá chậm, thành thử các nạn nhân không thể tố cáo chính sách đó ngay tức thì (chẳng hạn như tất cả các chính sách giảm giá trong lĩnh vực y tế).

Đó là một chính sách biết cách sử dụng các nguồn lực tri thức vào lợi ích kinh tế nhờ vào sức mạnh của đồng tiền, ví dụ như Think Tanks, viện chính sách tập hợp các nhà tư tưởng và các nhà nghiên cứu đương chức, các nhà báo và các chuyên gia quan hệ công chúng. Chính sách đó hẳn phải gây nên sự cự tuyệt của tất cả các văn nghệ sĩ và các học giả vốn gắn bó với công việc nghiên cứu độc lập. Nhưng bản thân những người này đang là những nạn nhân được chỉ định. Ngoài việc không phải lúc nào họ cũng nhận thức và hiểu biết các cơ chế và hành động đang tập trung phá hủy thế giới mà chính cuộc sống của họ đang có liên quan; vì luôn thiết tha một cách chính đáng sự độc lập, tự trị, nhất là về mặt chính trị, họ không được chuẩn bị tốt để dấn thân trên chính trường, dù chỉ để bảo vệ sự độc lập, tự chủ của mình. Sẵn sàng cùng hành động vì các sự nghiệp toàn cầu mà hệ hình của chúng mãi là hành động của Zola ủng hộ Dreyfus nhưng họ lại không sẵn sàng cho lắm trong việc dấn thân vào những hoạt động mà họ thấy dường như mang tính nghiệp đoàn chủ nghĩa ích kỷ vì những hoạt động này chỉ có một đối tượng chủ yếu, đó là việc bảo vệ quyền lợi đặc thù của họ. Như vậy là chúng ta quên rằng, bằng cách bảo vệ những quyền lợi liên quan trực tiếp nhất đến cuộc sống của bản thân họ (bằng những hành động như những hành động của các nhà điện ảnh Pháp chống lại AMI- Hiệp định đa phương về đầu tư), họ góp phần bảo vệ các giá trị mang tính phổ quát nhất, những giá trị mà qua họ đang bị trực tiếp đe dọa.

Những hoạt động kiểu này vừa hiếm vừa khó: việc huy động giới chính khách vào những sự nghiệp vượt qua giới hạn của những quyền lợi nghiệp đoàn của một loại hình xã hội đặc thù, tài xế xe tải, y tá, nhân viên ngân hàng hay các nhà điện ảnh luôn đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian, đôi khi yêu cầu cả tinh thần dũng cảm nữa. Những “mục tiêu” của việc huy động giới chính khách thì cực kỳ trừu tượng và rất xa rời thực tế của công dân, kể cả những người có học: các công ty đa quốc gia lớn với những hội đồng quản trị quốc tế, những tổ chức quốc tế lớn, OMC, FMI và ngân hàng thế giới và những chi nhánh với những tên viết tắt phức tạp và đôi khi không thể đọc được, và tất cả các thực tế tương ứng, các ban và ủy ban gồm những nhà kỹ thuật cầm quyền không được bầu và công chúng quảng đại ít biết đến, tất cả tạo thành một chính phủ quốc tế vô hình mà nhiều người không nhận biết và quyền lực của nó thậm chí chi phối các chính phủ quốc gia. Kiểu Big Brother (truyền hình thực tế) này được trang bị tất cả các tập tin được kết nối với nhau về tất cả các thể chế kinh tế và văn hóa. Nó có công năng, hiệu suất, nó quyết định chúng ta ăn gì, không ăn gì, đọc hay không đọc, xem hay không xem phim hay ti vi, và cứ như thế, trong khi các nhà tư tưởng sáng suốt nhất vẫn còn tin rằng những gì đang diễn ra hiện nay là sự tiếp nối những tư biện kinh viện về các dự án Quốc gia toàn cầu theo tư tưởng của các triết gia thế kỷ 18.

Bằng quyền lực gần như tuyệt đối, một thứ quyền lực chi phối các tập đoàn truyền thông lớn, có nghĩa là chi phối toàn bộ các công cụ sản xuất và phát hành các sản phẩm văn hóa, những ông chủ thế giới mới đang hướng đến việc thâu tóm tất cả các quyền lực kinh tế, văn hóa và biểu trưng, những quyền lực mà trong phần lớn các xã hội luôn mang tính riêng biệt, thậm chí đối lập, và như vậy, họ có khả năng áp đặt trên quy mô lớn thế giới quan của họ cho phù hợp với quyền lợi của mình. Mặc dù không phải là những nhà sản xuất trực tiếp và cách thể hiện của chúng được bộc lộ trong những thông cáo không phải là độc đáo nhất, tinh tế nhất của các nhà quản lý, các tập đoàn truyền thông lớn đang đóng góp một phần quyết định vào việc lưu hành gần như trên toàn thế giới một tín điều (doxa) vừa tràn lan vừa vòng vo về một chủ nghĩa tự do mới mà có lẽ phải phân tích chi tiết cái biện pháp tu từ: những con quỷ logic như những nhận định chuẩn (ví dụ như: “kinh tế đang toàn cầu hóa, cần phải toàn cầu hóa nền kinh tế của chúng ta”; “mọi thứ thay đổi rất nhanh, chúng ta cần phải thay đổi”), những “suy luận” thô lỗ, vừa kiên quyết vừa lạm dụng (“Sở dĩ chủ nghĩa tư bản thắng thế khắp nơi là bởi vì nó được ghi sâu trong bản chất của con người”), những luận đề không thể pha gian (“Bằng cách tạo ra sự giàu có, chúng ta tạo ra công ăn việc làm”, “Quá nhiều thuế sẽ giết chết thuế”), cách nói mà, đối với những người hiểu biết nhất, có thể tham khảo biểu đồ nổi tiếng của Laffer, một nhà kinh tế học khác tên là Roger Guesnerie đã chứng minh rằng biểu đồ này không thể chứng minh…), những thực tế hiển nhiên, không thể tranh cãi, đến nỗi chính việc tranh cãi về những thực tế này dường như đang là vấn đề đáng tranh cãi (“Nhà nước bảo hộ và sự bảo đảm công ăn việc làm đã thuộc về quá khứ” và “làm sao còn có thể bảo vệ nguyên lý dịch vụ công”), những ngộ biện đôi khi méo mó (kiểu: “Nhiều thị trường hơn là nhiều công bằng hơn”, “chủ nghĩa bình quân xô đẩy hàng nghìn người đến sự nghèo khó”, những uyển ngữ kỹ thuật cầm quyền (nói “tái cơ cấu các doanh nghiệp” thay vì nói sa thải) và biết bao nhiêu khái niệm và cách nói sáo rỗng, gần như không rõ nghĩa, bị tầm thường hóa và bị bào mòn vì nói lâu thành quen, những khái niệm, cách nói vận hành như những câu thần chú, được nhai đi nhai lại vì giá trị thần chú của chúng (“phi điều tiết”, “thất nghiệp tự nguyện”, “tự do trao đổi”, “tự do lưu thông vốn”, “tính cạnh tranh”, “tính sáng tạo”, “cách mạng công nghệ”, “tăng trưởng kinh tế”, “khắc phục lạm phát”, “giảm nợ công”, “giảm giá thành lao động”, “giảm chi tiêu xã hội”). Bị áp đặt bởi hậu quả của sự phát triển liên tục, tín điều (doxa) này rốt cuộc được thể hiện với sức mạnh tiềm ẩn của một điều gì đó hiển nhiên. Ai mà định loại bỏ khái niệm này thì không thể, ngay trong trường sản xuất sản phẩm văn hóa, trông cậy vào giới báo chí vốn liên kết chặt chẽ với các nhà sản xuất và các sản phẩm hướng đến sự thỏa mãn nhu cầu của công chúng đông đảo nhất (nói thế không phải không có những ngoại lệ), cũng không thể trông cậy vào các “trí thức truyền thông đại chúng”. Những trí thức này luôn quan tâm đến thành quả vật chất, cuộc sống của họ phụ thuộc vào nhu cầu thị trường. Trong một số trường hợp hy hữu và cũng đặc biệt đầy ý nghĩa, họ có thể bán trên thị trường kinh doanh những sản phẩm bắt chước, mô phỏng các tác phẩm thời kỳ tiên phong mà các tác phẩm tiên phong thì luôn chống lại thị trường đó. Điều này có nghĩa, vị thế của các nhà sản xuất sản phẩm văn hóa độc lập nhất, bởi lẽ càng ngày càng mất đi phương tiện sản xuất và đặc biệt là phương tiện lưu hành, có lẽ chưa bao giờ bị đe dọa đến mức như vậy, chưa bao giờ yếu như vậy nhưng cũng chưa bao giờ hiếm có, hữu ích, quý báu như vậy.

Kỳ lạ ở chỗ, những nhà sản xuất “trong sạch” nhất, phi lợi nhuận nhất, “hình thức” nhất” thường đi tiên phong trong cuộc chiến bảo vệ các giá trị cao quý nhất của nhân loại. Bằng cách bảo vệ tính đặc thù của mình, họ bảo vệ những giá trị phổ quát nhất.

Pierre Bourdieu

Séoul, tháng 9 năm 2000.

NGUYỄN DUY BÌNH dịch