Vong bướm

Đăng ngày 01/05/2012 trong mục Kịch bản, Tác phẩm Văn nhân, Thi hữu, Blogger Lượt xem: 1 045 lần

>>Xem “Trò chuyện với hoa thủy tiên và…” trên vuthanhhoa.net

>> Nguyễn Huy Thiệp thời Vong Bướm
>>Nguyễn Huy Thiệp vì sao ‘Vong bướm’?
>>Nguyễn Huy Thiệp và câu chuyện ‘Vong bướm’
>>Về Cái Tài của Nguyễn Huy Thiệp
>>Nguyễn Huy Thiệp: Tôi thấy người thích tôi, và cả người ghét tôi…
>>Nguyễn Huy Thiệp: “Ngày thơ năm nay vừa vĩ đại vừa…nhố nhăng”

Vong bướm

(hay là Sự tích chàng nghệ sĩ)
kịch bản chèo
“Em ạ, ngày xưa vua nước Bướm…” (thơ Nguyễn Bính)

TỰA

1. Thuở bé, khoảng từ 5 – 10 tuổi, tôi cùng gia đình ở Kim Anh (Vĩnh Phúc). Những đêm hát chèo ở các làng Thanh Nhàn, Thạch Lỗi, Chi Đông in dấu sâu đậm trong tâm trí tôi:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay…” *

Sau này lớn lên, trở thành nhà văn, tôi vẫn dành thời giờ để tâm đến chèo. Tôi đặc biệt chú ý đến phần kịch bản mà người xưa thường gọi là thân trò hay tích trò (phần lớn các thân trò hay tích trò này chỉ được truyền khẩu chứ không được lưu giữ bằng văn tự).

Trong các thân trò, tích trò cổ, người ta dễ nhận ra hai yếu tố dân gian và bác học kết hợp thành. Phần dân gian gồm các màn hề múa hát, đấu đá, mua vui rất sống động thường do các nghệ nhân (đa số là người trong một nhà, một giáo phường) đảm nhiệm. Họ ăn ở cùng nhau hàng ngày, biểu diễn với nhau hàng đêm nên rất hiểu ý nhau. Hai đề tài chủ yếu mua vui của họ phần lớn là hai nỗi ám ảnh thường xuyên trong đời sống, đó là tình cảnh đói ăn và đói tình dục (khát vọng vật chất và khát vọng tình yêu). Phần bác học của các thân trò, tích trò thường được tạo bởi các cụ đồ Nho, những người có học, những trí thức nông thôn.

Các soạn giả này dùng các câu chuyện lịch sử hay chuyện cổ tích vẫn được lưu truyền phổ biến như Quan Âm Thị Kính, Từ Thức, Lưu Bình – Dương Lễ, Phạm Công – Cúc Hoa, Kim Nham, v.v. để làm sườn, làm xương sống cho vở diễn. Yếu tố tự sự có tính ước lệ rất cao đã thu gọn được tối đa sự rườm rà trong các câu chuyện kể, đồng thời lồng ghép vào đấy những bài học luân lý đạo đức rất hiệu quả và đặc sắc.

Khi biểu diễn, những vai chính diện có tác dụng giáo hoá đạo lý thường lại hay do những diễn viên nghiệp dư (“bọn tử tế”!) đảm trách bởi trong kịch bản “đất diễn” của những vai đó thường không có nhiều, không cần dùng đến những ngón nghề phức tạp. Số người này không thể sánh được với những nghệ nhân chuyên nghiệp (đám quan viên phường chèo, xướng ca vô loài”!) chỉ nhăm nhăm quấy đảo để làm tăng vị chèo, làm loãng đi, làm giãn bớt các sức ép do những diễn biến khôn lường, hậu quả tai hại từ việc diễn chèo mang lại (đôi khi có cả đánh nhau trong đêm diễn!)

Các tích truyện trong chèo thường không cầu kỳ, phức tạp, phần lớn ước lệ và được nhiều người biết thông qua hình thức truyện cổ tích hoặc lịch sử. Người đi xem chèo hầu như đã “biết tỏng” các tích truyện rồi sẽ diễn ra trong đêm chèo đó thế nào. Không khí “người đi xem người”, cảm giác về đêm diễn với những lời ca của các diễn viên mới là quan trọng. Cuộc sống thực sự của chính những người đi xem chèo mới là quan trọng. Có lẽ cảm hứng cốt tử của một vở chèo (và của mọi hình thức nghệ thuật nói chung chăng?) chỉ là đề cao tính chất thường và vô thường trong mọi sự đời mà thôi. Sâu xa hơn nữa, những miếng trò quấy đảo của các diễn viên trong các vở chèo thậm chí còn muốn xoá nhoà đi mọi ranh giới thị phi, ném nụ cười vào bóng đêm mê man hỗn độn vô minh của đời sống làng quê bùn lầy nước đọng, biến việc to thành việc nhỏ, thành nhỏ hơn, thành nhỏ xíu, thành nhỏ tí, thành không chấp, thành vớ vẩn, thành cát bụi rồi thành vô thường. Có thế thì mới sống được, mới về nhà được, mới ngủ được để mỗi sớm mai lại dậy đi làm và đi “chiến đấu”! Chèo góp phần an ủi, là miếng cháo văn hoá tinh thần cho người ốm yếu, cho các thân phận thấp cổ bé họng, cho những kẻ hy sinh, nâng bước cho họ, hòng giúp cho họ vượt qua bể khổ trầm luân trong kiếp sống phù du vô cùng cay đắng. Chèo thực sự là một đặc sản văn hoá có một không hai của văn minh đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Chèo là một loại hình nghệ thuật gây cảm giác và truyền cảm giác rất hiệu quả. Nghệ thuật nào cũng vậy, nó sẽ chẳng là gì nếu nó chẳng góp phần truyền đến người ta cảm giác về sự sống đang sôi động ngoài kia, về “cái đang là”, buộc họ tìm hiểu đến ý nghĩa của cuộc sống đang sôi động đó, để xác định vị trí của mình, để hỏi rằng: “Ta là ai?”

2. Kho tàng chèo cổ Việt Nam hiện không có nhiều, bị thất thoát, một phần vì trước đây chỉ được lưu giữ bằng truyền khẩu. Tính không hoàn chỉnh và lỏng lẻo trong các thân trò, tích trò cũng là một điều đáng để lưu tâm bởi nhiều lý do khác nhau. Các soạn giả chèo cổ ngày xưa khi soạn các thân trò, tích trò thì thật ra nó chỉ na ná giống như một bức ký hoạ, một phác thảo, một bản đề cương, một bản đồ chỉ dẫn đường đi cho đêm diễn. Rất nhiều đất để dành cho đạo diễn và diễn viên tham gia vào, người ta có thể tha hồ diễn cương hoặc ứng khẩu. Tính dân chủ, tính nghiệp dư có phần nào tuỳ tiện, khá phù hợp với lối sống và tổ chức của các phường chèo làng xã. Thực sự, việc diễn chèo thường gắn với các đám (đám hội, đám cưới, đám lễ…) và việc “vô sở cầu, phi vụ lợi” của hình thức diễn xướng này có mặt tích cực nhưng cũng có mặt hạn chế là đã làm cho “phường chèo” không có cơ hội để phát triển một cách chuyên nghiệp như lối hiểu hiện nay.

Việc truyền khẩu các làn điệu chèo, các cách hát chèo chính là “bửu bối” của các nghệ nhân và đám “quan viên”. Những bí kíp được lưu giữ thông qua hình thức thày trò “trao y bát” truyền cho nhau hoặc theo lối bảo ban gia truyền. Phải là người trong đạo, trong phường hoặc trong nhà mới hiểu rõ “đường đi lối lại” của các làn điệu chèo và chính điều ấy tạo ra hai mặt vừa lợi vừa hại cho sân khấu chèo. Trong nhiều năm gần đây, việc đào tạo các lớp diễn viên chèo, truyền cảm hứng cho họ và làm cho họ sống được bằng nghề là một cố gắng tuyệt vời. Song, một số mục đích thực dụng thái quá (như việc chính trị hoá nội dung) đã làm cho chèo trở nên dung tục và lâm vào tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” tù túng. Việc tham gia của các tác giả có văn tài thực sự còn rất hạn chế. Có thể đếm trên đầu ngón tay được vài ba tác giả văn học có tham gia vào “đất chèo” nhưng cũng chỉ là mon men thể nghiệm. Lục bát là thể thơ cơ bản, là cơ sở hồn cốt để hát chèo, viết nó ra thật dễ dàng nhưng để viết cho hay thì rất khó. Đa số phần lời trong các ca từ chèo gần đây chỉ là vần vè, vớ vẩn, vô vị, không có tư tưởng và vì thế, không còn hấp dẫn đối với người xem.

Văn học Việt Nam kể từ khi có chữ Quốc ngữ đến nay phát triển qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có những tác giả văn học đáng lưu danh. Thơ (đặc biệt là lục bát) chiếm vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên thế giới tâm linh, tâm hồn người dân Việt. Song đáng tiếc, có rất ít tác giả thơ lục bát kiệt hiệt để lại dấu ấn cho người đời sau. Trong vòng một trăm năm qua, Nguyễn Bính (1917 – 1966) là một trong những nhà thơ hiếm hoi đã tạo ra được nhiều cảm hứng nhất cho nhiều người viết. Trong kịch bản này, tôi đã dựa chủ yếu vào cuộc đời và những sáng tác của Nguyễn Bính để xây dựng nên hình ảnh về các nhân vật. Theo tôi, Nguyễn Bính (hơn cả danh hiệu một nhà thơ thông thường) ông thực sự là một vị á thánh của văn học Việt Nam. Khi còn sống, rất thú vị là Nguyễn Bính cũng từng đã viết chèo.

Sang thế kỷ 21, thế giới hiện đại phát triển thật kỳ vĩ khác thường với 7 tỉ người chung sống trên trái đất. Các hình thức văn học nghệ thuật xem – nghe – nhìn đã khác xưa. Càng toàn cầu hoá thì những hình thức nghệ thuật cổ truyền dân tộc lại càng nên được gìn giữ phát huy theo những cách nào đó. Kịch bản này lấy chèo làm gốc, làm xương sống nhưng cũng là một bản sơ đồ, một thứ nghệ thuật sắp đặt, một bản thiết kế cho một loại hình nghệ thuật xem – nghe – nhìn mới, cần đến sự tham gia của nhiều người, của các đạo diễn, diễn viên, hoạ sĩ thiết kế, ánh sáng, âm thanh, vũ đạo, v.v. Tác giả hy vọng kịch bản này đến tay được người biết cách sử dụng và dàn dựng nó trên sân khấu. Được như vậy, gọi là “nhân duyên tương phùng”, cũng gọi là “đến bờ bên kia” hay “đáo bỉ ngạn”.

Nguyễn Huy Thiệp ra mắt

Nguyễn Huy Thiệp ra mắt "Vong bướm". Ảnh: Toan Toan.

CHƯƠNG I

cảnh làng quê (bến sông)

Hề ra
Hề:
– Ới bà con ơi!
Tiếng đế:
– Sao?
Hề:
– (vỉa) Có câu rằng:
Bạch nhật mạc nhàn quá
Thanh xuân bất tái lai.
Nghĩa là:
Ngày thường không nên nhàn rỗi quá,
Tuổi thanh xuân đâu có trở về.
Bởi thế nên hôm nay mới ra hội chèo để kể chuyện đây!
Tiếng đế:
– Kể chuyện gì nào?
Hề:
– Kể chuyện vong, kể chuyện ma!
Tiếng đế:
– Thế thì sợ nhỉ?
Hề:
– Không sợ đâu! Toàn chuyện vui thôi!
Tiếng đế:
– Thế thì giáo đầu đi!
Hề:
– Ừ thì giáo đầu nhé! Hãy nghe Hề kể chuyện vong Bướm nhé!
Tiếng đế:
– Ong bướm chứ sao lại vong Bướm?
Hề:
– Ong bướm thì nói làm gì. Nhảm nhí! Đây là vong Bướm! Thế mới đáng để hát chèo chứ!
(hát cách) Chuyện rằng xưa có loài vong Bướm,
Sinh ra từ nơi chốn làng quê.
Luỹ tre mái rạ đi về,
Chợ chiều bến bãi dãi dề sớm hôm.
Con sông nhỏ nơi vong tắm mát,
Nước gương trong soi mát hàng tre,
Chiều thu dằng dặc chân đê,
Hồn thơ lục bát làm mê cung đình…
Tiếng đế:
– Hoá ra vong Bướm người nhà quê à?
Hề:
– Đúng rồi!
(hát cách) Loài vong Bướm hữu tình chăng tá?
Dan díu nơi đô thị phồn hoa,
Oan khiên báo hại người ta,
Tha phương cầu thực nơi xa nẻo gần.
Giang hồ tứ cố vô thân,
Thế mà nên bậc thánh thần lạ chưa?
Đời khôn khéo, đời dối lừa,
Nhởn nhơ vong Bướm dại khờ mua vui!
Tiếng đế:
– Thế có vui không?
Hề:
– Vui buồn lẫn lộn!
(Bởi vậy mới) bắc thang lên hỏi ông giời,
Nhân sinh bách nghệ mấy người còn vong.
Không vong trước, sau rồi vong,
Không vong không có tấm lòng với nhau.
Nước non, non nước một màu,
Tâm hồn quê kiểng vẫn câu ân tình.
Xung quanh đâu cũng người mình,
Vong là ngọn gió đa tình bay qua.
Vong ngoài sân, vong trong nhà,
Vong từ cung cấm, vong ra sân đình.
Vong này đích thị vong tình,
Xem ra vong Bướm ở mình, ở ta,
Đạo nào tất cả cũng là.
Âm dương, đực cái, đàn bà, đàn ông!
Hỏi người người biết hay không?
Tiếng đế:
– Biết thế nào?
Hề:
– Biết chuyện vong Bướm!
Tiếng đế:
– Chịu! Không biết!
Hề:
– Thế để Hề gọi người ta ra rồi Hề hạ nhé! (gọi) Ới chàng vong Bướm, ới chàng Điệp Lang! Ra hát chèo nào!
Hề hạ, Điệp Lang ra.

Điệp Lang:
– (xưng danh) Thưa tôi đây tên gọi Điệp Lang,
Vừa là giai làng, vừa là giai phố!
Kiếp trước tu thế nào không rõ,
Mà kiếp này tôi thật đa đoan.
Chắc hẳn tôi vốn mệnh bướm vàng,
Bay phấp phới giữa vườn hoa xuân sắc.
Ới nào các chị em!
Tiếng đế:
– Có chúng em đây!
Điệp Lang:
– Hãy ra đây cùng múa hát nào!
Dàn đồng ca ra.

Dàn đồng ca:

– (hát cách) Một năm đến lắm là ngày,
Mùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồng.
Thoáng qua một thuở xuân hồng,
Tơ xanh ngời ngợi má hồng môi son.
Giời quang lá nõn nhành non,
Gió về từng trận, gió còn bay đi.
Vui sao khi tuổi xuân thì,
Nhuỵ tình phong kín những gì chờ anh.
Gần nhau cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.
Tương tư lòng dạ bồi hồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau!
Nhà em có một giàn trầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? *
Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao,
Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Đời người như giấc mơ vong,
Nào ai nhớ chuyện bướm hồng ngày xưa.
Hỡi ơi nửa thực nửa mơ,
Hồn vong Bướm ấy bây giờ là đây…
1 cô gái:
– Ơi chàng vong Bướm!
1 cô gái:
– Ơi chàng Điệp Lang!
Điệp Lang:
– Tôi đây! Có tôi đây!
1 cô gái:
– Thế bữa nay chàng ký giao kèo với Ma vương à?
Điệp Lang:
– Là như thế đấy!
1 cô gái:
– Ký giao kèo với chúa Bướm à?
Điệp Lang:
– Là như thế đấy!
1 cô gái:
– Ma vương hút máu bọn con gái đấy!
1 cô gái:
– Ma vương là ma chơi đấy!
1 cô gái:
– Ma vương là ma cà rồng đấy!
1 cô gái:
– Kia kìa! Ma vương ra kìa!
Các cô gái chạy đi. Dàn đồng ca hạ.
Ma vương và bầy quỷ ra. Đấy là một thế lực tự nhiên và xã hội.

Ma vương:
– Cha chả! Cha chả!
(xưng danh) Như ta đây, đích thị Ma vương!
Ta phiêu bạt trên cánh đồng bạt gió!
(bầy quỷ phụ hoạ) Những cơn lốc điên cuồng là ta đó!
Là lũ tràn, là sấm sét, là bão giông!
Là bạt ngàn gốc rơm rạ giữa đồng,
Khói nghi ngút kín chân trời khao khát!
Ta ướt rượt giọt mồ hôi đắng chát,
Là hoang vu, là mê sảng, là cô đơn!
Là mất mùa, là dịch bệnh, là oán hờn!
Là xương trắng rải trên từng vuông đất!
Ta sa mạc những bờ xôi, ruộng mật,
Ta giết dần những giấc mơ hoa!
Ta biến cô thiếu nữ thành bà già,
Ta làm kiệt sức những chàng trai trẻ!
Ta là cô hồn, ta là tận thế,
Ta là bài ca tuyệt vọng cõi nhân sinh!
Ta là cơn lốc bất thình lình,
Ta ập đến trong sát-na, trong thời khắc!
Ta ký những giao kèo bí mật,
Ta ký trong thoả thuận tâm linh.
Ta ký giao kèo với các sinh linh…
Ta đã đến!
Ta đã thấy!
Và ta đã thắng!
Sấm sét, khói lửa. Bọn quỷ xô đẩy, nhảy múa. Điệp Lang ký vào một bản lụa trắng. Ma vương giật lấy, bỏ đi. Tất cả như trong ác mộng.

Dàn đồng ca:
– (hát cách) Thương thay số kiếp con người,
Trầm luân bể khổ đời người đa đoan.
Trước là do tại lòng tham,
Sau là sân hận lòng toàn ghét ghen.
Ngu si tăm tối ươn hèn,
Mê mê sảng sảng bon chen hận thù.
Mình ngu chẳng nhận mình ngu,
Sao không biết chọn đường tu cho mình?
Trúc xinh trúc mọc sân đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh!
Bởi chưng do bởi chữ Tình,
Nên ân nên oán nên mình nên ta.
Hồn tôi là một bài ca,
Du dương những mộng, những hoa,
những đàn.
Hồn cô toàn những đa đoan,
Vào trong chỉ thấy toàn oan với cừu!
Hồn tôi sương sớm nắng chiều,
Sương mờ nhàn nhạt, nắng chiều rưng rưng.
Hồn cô là đấu, là thưng,
Đo đo đếm đếm đến từng sợi tơ!
Hồn tôi ra ngẩn vào ngơ,
Hồn cô tỉnh thức giấc mơ giàu nghèo!
Hồn tôi giếng ngọt trong veo,
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh.
Hồn cô cát bụi kinh thành,
Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe.*
Lầm lầm lẫn lẫn u mê…
1 cô gái :
– Tỉnh lại chàng ơi!
1 cô gái:
– Chàng ơi tỉnh lại!
Điệp Lang:
– (tỉnh lại) Đây là đâu? Ta đã ký với Ma vương khế ước. Hắn đâu rồi?
Các cô gái:
– Đi rồi! Đi rồi!
Điệp Lang:
– (đứng dậy) Ta đã phó thác số phận mình cho quỷ dữ!
Cho ngất ngây,
Cho say đắm,
Cho hoang vu!
Cho loạn luân,
Cho khát vọng,
Cho hận thù!
Cho ảo tưởng,
Cho thiên thu,
Cho sống chết!
Cho quạnh hiu,
Cho nụ cười,
Cho ly biệt!
Cho điêu tàn,
Cho dục vọng,
Cho tự do!
Cho điên cuồng,
Cho mệt mỏi,
Cho âu lo!
Cho sung sướng,
Cho du dương,
Cho bất lực!
Để đổi lại,
Ta chỉ đòi:
TỈNH THỨC!
Dàn đồng ca:
– (hát cách) Bởi chưng số kiếp con người,
Trầm luân bể khổ lòng đầy đa đoan.
Nào phùng thời, nào thở than,
Vuốt xuôi mái tóc bỏ làng mà đi!
Đò tôi bến Đục sông Si,
Gió lên một chuyến chèo ghì sang Nam.
Cờ chưa tàn, pháo chưa hoàn,
Con sông Dịch đó, lại sang tốt đầu.
Truyện Kiều còn nhớ đôi câu:
“Trời cao sông rộng một màu bao la”
Tháng ngày lần lữa trôi qua,
Gió đông nam vắng nghĩ mà buồn tênh!
Lênh đênh cát bụi kinh thành,
Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe…*
Lầm lầm, lẫn lẫn, u mê…
Dàn đồng ca và Điệp Lang hạ
Hề và Sùng ông (lão Say) ra.

Sùng ông (lão Say):
– Con ơi, con ơi! Điệp Lang con ơi!
Hề:
– Cụ ơi, cụ ơi! Cụ Sùng ông ơi!
Sùng ông:
– (xưng danh) Lão đây tên gọi Sùng ông,
Lão từ chèo cổ lão vòng ra đây!
Lão nửa tỉnh, lão nửa say,
Bởi vì con dại lão này phải ra!
(vỉa) Con ơi, ới con ơi!
Mình sinh ra nơi chốn quê nghèo,
Sao (con) không tri túc cho (nó) đỡ gieo neo (cái)
thân mình!
Con đánh đu với lũ (bè bạn) yêu tinh,
Con mơ mộng hão linh tinh (để) làm gì?
Đường gần con lại không đi,
Ở quê an phận ngủ khì (có) hơn không?
Như cha con đây vài xị rượu đế là xong,
Sớm trưa chiều tối thong dong (cho) qua ngày!
Mặc cho Nam Bắc Đông Tây,
Nếu giời có sụp lão này vẫn bình an!
Lão say nên lão mới nhàn…
Hề:
– Cụ Sùng ông ơi, chàng Điệp Lang ra đi tìm kiếm công danh sao cụ trách cứ làm gì?
Sùng ông:
– (nói) Ai trách? Ai trách?
Chẳng qua sinh con ra ngu dại thì lòng lão đau thôi!
Lão bắc thang lên hỏi ông giời,
Trách ai, ai trách, hỏi người trách ai?
Nào, chú Hề, uống rượu với lão nào!
(rất say)
“Lộ phùng tri kỷ thiên bôi tửu”,
Uống nữa đi và say khướt nữa đi.
Truyện trăm năm thôi đéo có ra gì!
Say một tối ấy là vui một tối!
Tiên sư thằng nói dối!
Đéo mẹ đứa giả vờ!
Sống ở đời thấy rượu lại thờ ơ!
Thật chúng nó ngu hơn đồ con chó!
Uống nữa đó, lại say nữa đó!
Đù cha thằng ngơ ngẩn cười ông!
Chúng mày có biết hay không?**
Sùng ông:
– (móc túi lấy thư) Này chú Hề! Lão có cái thư của thằng con lão… Chú mắt sáng lại hát hay, đọc hộ lão cái thư này nhé!
Hề:
– (cầm thư) Chữ với nghĩa. Sao nhiều chữ thế!
(hát cách) Ai về làng cũ hôm nay,
Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi.
Con đi mười mấy năm giời,
Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương.
Thày đừng nhớ, mẹ đừng thương.
Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi.
Thày mẹ ơi, thày mẹ ơi,
Tiếc công thày mẹ đẻ người con hư! *
Sùng ông:
– Chà! “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Thằng con lão biết tự thán rồi đây!
Hề:
– (hát cách) Con đi năm ấy tháng Tư,
Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng Ba.
Con đi quạnh cửa, quạnh nhà,
Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm.
Con dậm gạo, mẹ thổi cơm,
Có con, con vắng ai làm thay cho?
Con dan díu nợ giang hồ,
Một mai những tưởng cơ đồ làm nên.
Ai ngờ ngày tháng lưu niên,
Đã không gợi chút báo đền dưỡng sinh,
Lại mang ân ái vào mình,
Cái yêu làm tội làm tình cái thân.
Bó tay như kẻ hàng thần,
Chán chường như lũ tàn quân lìa thành.
Mẹ cha thì nhớ thương mình,
Mình đi thương nhớ người tình xa xôi…
Ở thư này thày mẹ ơi,
Nhận cho con lấy vài lời kính thăm.
Xin thày mẹ cứ yên tâm,
Đừng thương nhớ, một vài năm con về.
Thày ơi đừng chặt vườn chè,
Mẹ ơi, đừng bán cây lê con trồng.
Nhớ thương thày mẹ khôn cùng,
Lạy thày lạy mẹ thấu lòng cho con…*
Sùng ông:
– Giời ơi là giời! Hiếu ơi là hiếu! Con ơi là con! Mày đi cho sướng thân mày, còn để cho bố mày khổ thế này à?
Dàn đồng ca:
– (hát cách) Vui thay cảnh trí thiên nhiên,
Non xanh nước biếc cảnh tiên cõi trần.
Đời người giấc mộng phù vân,
Mê man trong cõi nhân quần với nhau.
Lầm lầm lẫn lẫn khổ đau,
Nào ai mê chuyện công hầu á khanh?
Non xanh xanh, nước xanh xanh,
Quay lưng cát bụi kinh thành lấm lem.
Rời xa những chốn đua chen,
Ta về cùng với thiên nhiên vui vầy.
Ta về cùng với ruộng cày,
Ta về ngòi sạch, sông đầy của ta.
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn,
Ta về cùng với rạ rơm,
Ta về tình nghĩa xóm thôn vui vầy.
Về cùng bác mẹ ta đây,
“Bản lai diện mục” như ngày còn xanh.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Mẹ cha mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Mẹ cha mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều *
Tất cả cùng hạ

CHƯƠNG II

cảnh đô thị (ga tàu)

4 quỷ, Hề và Điệp Lang ra.
Hề:
– (nói) Chàng Điệp Lang ở quê ra,
Phồn hoa đô thị xa nhà bấy nay…
Bạn tốt đây! Bạn tốt đây!
Ai kết bạn tốt với Điệp Lang nào!
4 quỷ:
– Có chúng tôi đây!
Hề:
- Xưng danh đi nào!
4 quỷ:
– (hát cách) Chúng ta làm bạn với người,
Tửu, sắc, yên, đổ, ai thời chẳng khen?
Cay nồng hơi thuốc hơi men,
Cờ bạc tay trắng tay đen đủ vành.
Trai giang hồ, gái thập thành,
Cùng nhau nương tựa, dấm thanh lửa nồng.
(cùng Điệp Lang) Giang san một chiếc mui bồng,
Rồi ra ngẫu nhĩ giữa dòng gặp nhau.
Cắm sào cho chặt canh thâu,
Uống muôn chung rượu u sầu gió sương.
Mắt quầng tóc rối tơ vương,
Da thơm là phấn môi hường là son.
Gái tơ san sát chân thon,
Ngất ngây khói thuốc mỏi mòn đê mê.
Sớm hôm mấy buổi đi về,
Quần cao áo lửng ê chề gió mưa.*
Kìa ai ngọn cỏ gió đùa,
Lăn lăn lóc lóc ai ngờ là đây.
Đỏ đen công nợ chất đầy,
Áo kia ai tím, môi này ai tươi.
Bạc tình khét tiếng xứ người,
Nhởn nhơ vong Bướm lả lơi khói đèn.
Người sang cho chí người hèn,
Tửu, sắc, yên, đổ bạn hiền là đây!
Hề:
– Hoá ra bốn vị tửu, sắc, yên, đổ chính là bạn đời của mỗi người ta!
4 quỷ:
– Đúng rồi ! Đúng đấy! Khế ước của Ma vương đấy!
Hề:
– Khế ước gì nào?
4 quỷ:
– Hỏi vong Bướm ấy!
Hề:
– Này bác Điệp Lang, bác ký với các vong những điều gì thế?
Điệp Lang:
– (nói) Ta chỉ muốn làm sao phân biệt được ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng trên đời này thôi!
Hề:
– Khó hiểu nhỉ?
Điệp Lang:
– (nói) Này nhé! Đâu là lằn ranh giữa đêm với ngày?
Lúc nào ngày mới bắt đầu? Khi nào thì đêm kết thúc?
Hề:
– Thật dễ quá! Với Hề thì cứ đúng giờ Dần khi nào vợ Hề dậy đi giải sớm, vo gạo thổi cơm là lúc hết đêm sang ngày đấy!
1 quỷ:
– Không phải! Đêm tối thì không phân biệt được chó với mèo. Khi nào phân biệt được chó với mèo thì đó là ngày! Đấy là giờ Mão!
Hề:
– Ối giời! Sang giờ Mão mới là ngày thì chết đói! Lúc ấy vợ Hề đã gặt xong ba sào lúa rồi!
1 quỷ:
– Khi nào ta phân biệt được lá tre với lá trúc thì đó là ngày. Đấy là giờ Tý!
Hề:
– Chết! “Nửa đêm giờ Tý canh ba”… Lúc ấy mới có nửa đêm thôi bố quỷ ạ!
1 quỷ:
– Khó nhỉ?
1 quỷ:
– Khó quá!
Điệp Lang:
– (nói) Ta cũng chỉ đi tìm ranh giới để phân biệt điều ấy mà thôi!
Hề:
– Tìm ở đâu?
4 quỷ:
– Tìm ở phía trước kia kìa!
Điệp Lang:
– Không phải! Có lẽ chỉ tìm được nó trong lòng người thôi!
Hề:
– Vậy ta đi đâu?
Bọn quỷ:
– Vượt qua bốn núi tiến vào thành đô!
Hề:
– Bốn núi gì nào?
Bọn quỷ:
– Núi Sinh, núi Lão, núi Bệnh, núi Tử!
Tiếng còi tàu. Bốn ngọn núi lù lù tiến đến.

Dàn đồng ca:
– (hát cách) Lên tàu, nào ta lên tàu!
Toa đen chen lấn ai dầu quản chi.
Vèo qua một kiếp xuân thì,
Sinh, Lão, Bệnh, Tử ai thì chẳng qua?
Chén sầu ly biệt sân ga,
Nào ai nghĩ đến đường xa mà lường?
Muôn ngàn nhớ, muôn ngàn thương,
Biết đâu Hà Nội là phương hướng nào?
Đêm tàn tỉnh giấc chiêm bao,
Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn.
Chén sầu đổ ướt tràng giang,
Canh gà bên ấy giằng sang bên này.*
Rằng muối mặn, rằng gừng cay
Tha hương phiêu bạt tháng ngày chờ trông.
Một mình ai nắm tay không,
Tin đồn toàn chuyện bướm ong gửi về,
Tiếng gà eo óc xóm quê,
Thức thi cùng nến dầm dề mưa giông.
Nào ai Tuyết Tuyết, Hồng Hồng,
Xuân, Lan, Thu, Cúc, Thảo, Hồng là ai?
Con sông không rộng mà dài,
Con đò không chở những người chính chuyên.
Hết Lào rồi lại Cao Miên,
Tắm trong một cái biển tiền người ta.
Biển tiền ôi biển bao la,
Mình không kiếm được cũng là tay không…*
Chung tình ném xuống đáy sông,
Bôn ba năm tháng mà không được gì.
Ốm đau tử biệt sinh ly,
Chợ chiều băm mặt cười khì thế nhân!
Đời người giấc mộng phù vân,
Chuyến tàu ga xép dừng chân nơi nào?
Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao,
Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng.
Hỡi ơi, nước mắt lưng tròng,
Đôi khi cân cấn đòng đong cũng chiều.
Giang hồ bạt tử phiêu diêu,
Tha phương cầu thực bao nhiêu cho vừa.
Mấy tuần ròng rã gió mưa,
Bên lầu đò lạnh, gió lùa nước dâng.
Ngược xuôi, mưa gió, giãi giằng,
Nằm đây nhớ nửa vầng trăng chốn nào?
Suốt giời không một điểm sao,
Suốt giời mực ở nơi nào loãng ra.
Lửa đò trong cái giăng hoa,
Mõ sông giục giục, canh gà te te.
Chừ đây bên nớ bên tê,
Sương thu xuống, gió thu về bồng bênh.
Đàn ai chừng đứt dây tình,
Nổi lên một tiếng buồn tênh rồi chìm…*
Điệp Lang:
– (mò mẫm giữa bầy quỷ và sương khói). Trời ơi… đây là đâu? Địa ngục hay trần gian? Đây là đâu?
(vỉa) Điên rồ, sân hận, tham lam?
Ngu si, bất hạnh, cơ hàn, đớn đau!
Nước non non nước một màu,
Mờ mờ nhân ảnh biết đâu mà tìm?
Đâu là ngày?
Đâu là đêm?
Đâu là ánh sáng, đâu là bóng đêm?
Cả đời vất vả đi tìm,
Xung quanh vắng lặng im lìm!
(hát cách) Tìm em như thể tìm chim,
Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Đông!
Hỏi người, người biết hay không?
Cả đời lận đận vẫn không được gì!
Một khi đã bước chân đi,
Chuyến tàu định mệnh bẻ ghi phương nào?
Dưới đất thấp, trên trời cao,
Hỏi ai, ai biết, ai nào, hỡi ai?
Một mình trên chặng đường dài,
Chỉ mình mình biết với ai một mình.
Làm sao vượt được tử sinh,
Dọc đường ngã xuống một mình mình hay!
Đi mà không đến là may,
Đến mà không được là đây Niết bàn!
Điệp Lang ngã xuống, đi tiếp, gục ngã,
lại đi tiếp.

Dàn đồng ca:
– (hát cách) Đàn tôi đứt hết dây rồi,
Không người nối hộ không người thay cho!
Nào ai biết được bến bờ,
Xa quê, bỏ quán bây giờ là đây!
Cơm đủ bữa, áo đủ thay,
Nhà thanh tiếng cả, tháng ngày còn đâu?
Nhà tôi có một vườn dâu,
Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần.
Hoa đỗ ván nở mùa xuân,
Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm*
Em là con gái mười lăm,
Mẹ cha mình vẫn chăn tằm ươm tơ.
Tình em như một giấc mơ,
Tình anh bến đợi vẫn chờ người xuôi…
Nàng về làm dâu nhà tôi,
Vườn dâu có thẹn với đôi tay ng�
Sang năm tôi phải về nhà,
Đợi xem giàn đỗ ra hoa có nhầm…*
Bây giờ nước mắt âm thầm,
Không bao giờ được về thăm quê nhà.
Giang hồ phiêu bạt nơi xa,
Một thân buồn tủi đâu là người thân?
Ơi thôn Vân, hỡi thôn Vân,
Nơi nao cất giải mây Tần cho ta.
Từ nay khi nhớ quê nhà,
Thấy mây Tần lại ngỡ là thôn Vân!
Nửa đời phiêu bạt xa gần,
Công danh cũng chỉ nợ nần than ôi!
Giang hồ sót lại mình tôi,
Quê người đắng khói quê người cay men*
Ma vương ra, cùng bọn quỷ xô đẩy Điệp Lang.

Ma vương:
– Tìm thấy chưa?
Điệp Lang:
– Chưa thấy!
Ma vương:
– Tìm thấy chưa?
Bọn quỷ:
– Chưa thấy!
Ma vương:
– Tìm thấy chưa?
Điệp Lang:
– (nói) Ta thấy rồi! Chỉ tìm thấy nó ở trong lòng người. Khi nào ngập tràn ánh sáng bao dung thanh thản trong lòng thì đó là ngày, khi nào trong lòng chỉ chứa hận thù thì là đêm tối.
Đi mà không đến là Tây Trúc
Đến mà không được, ấy Đào nguyên! ***
Tiếc thay! Ta chỉ bắt đầu đến Chân – Thiện – Mỹ!
Điệp Lang ngã xuống. Bọn quỷ
dùng tấm lụa liệm xác Điệp Lang.
Dàn đồng ca:
– (hát cách) Chuyến tàu định mệnh rời ga,
Sinh, Lão, Bệnh, Tử đâu qua được nào.
Đời người như giấc chiêm bao,
Trang Sinh hoá Bướm ngày nào là đây.
Mộng đế vương, mộng đông tây,
Cuối cùng chết thảm vũng lầy công danh.
Điệp Lang vong Bướm thôi đành,
Kiếp sau trả nợ lọng xanh áo cừu.
Hồn về thoát tục phiêu diêu,
Cờ hoa kèn trống nhiễu điều là đâu?
Đắm đò con nước chìm sâu,
Nghẹn ngào dặn lại dăm câu những là:
Em ơi em ở lại nhà,
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.
Mẹ già một nắng hai sương,
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Cậy em, em ở lại nhà,
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.
Mắt quầng tóc rối tơ vương,
Em còn cho chị lược gương làm gì?
Một lần này bước ra đi,
Là không hẹn một lần về nữa đâu.
Cách mấy mươi con sông sâu,
Và trăm nghìn vạn nhịp cầu chênh vênh.
Cũng là thôi cũng là đành,
Sang ngang lỡ bước đâu mình chị sao?
Tuổi son nhạt thắm phai đào,
Đầy thuyền hận, có biết bao nhiêu người.
Đêm qua mưa gió đầy giời,
Trong hồn ai có một người đi qua*
Thế là tan giấc mơ hoa,
Thế là tan cả bài ca não nùng!
Dàn đồng ca chất hoa lên xác Điệp Lang.

Dàn đồng ca:
– (hát cách) Thương thay số kiếp con người,
Chuyến tàu định mệnh đã rời sân ga!
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn!
Thương thay, ơi hỡi vong hồn,
Hãy về cùng với tâm hồn làng quê:
Hôm qua em đi tỉnh về,
Đợi em ở dưới con đê đầu làng.
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!
Nào đâu cái áo lụa sồi,
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân.
Nào đâu cái áo tứ thân,
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen.
Nói ra sợ mất lòng em,
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa!
Như hôm em đi lễ chùa,
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thày u mình với chúng mình chân quê!
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thày u mình với chúng mình chân quê!
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…*
Điệp Lang bay lên trời với hai cánh bướm.
Tất cả cùng hạ.
CHƯƠNG III
cảnh
chùa chiền

Hề ra
Hề:
– Loa! Loa! Loa! Loa!
Ngày rằm tháng Bảy,
Sùi sụt mưa ngâu,
Ô thước bắc cầu,
Hội làm đàn tế!
Chúng sinh tụ nghĩa,
Các loại vong ma.
Mau trở về nhà,
Mà nghe văn tế!
Sùng ông (lão Say) ra.

Sùng ông (lão Say):
– Này chú Hề! Bây giờ là đêm hay ngày? Tế lễ gì thế?
Hề:
– Chào cụ Sùng ông! Bây giờ là ban ngày. Hôm nay làng mở hội để tế các loài ong bướm đấy!
Tiếng đế:
– Vong Bướm chứ sao lại ong bướm?
Hề:
– Ừ thì vong Bướm! Có khi người ta cũng nói nhịu chứ!
(vỉa) Trâu gầy không trèo đường dốc,
Méo miệng chớ ăn xôi vò!
Đào tơ lại vớ khách thơ,
Khéo không mà lại bơ vơ lạc đường…
Cụ Sùng ông ơi! Đời người tầm thường hay không tầm thường?
Sùng ông:
– Làm ngụm rượu cái đã! (uống rượu) Chú hỏi gì nào?
Hề:
– Hề hỏi lão đời người tầm thường hay không tầm thường?
Sùng ông:
– (vỉa) Đời thường thường…
“Thường thường là thường quân bình,
Tầm thường là lẽ thường tình bình quân.
Ta như quả lắc quả cân,
Chuyển động là để tự tâm quân bình” ***
Chết ở cái nỗi người ta đi tìm cái bất bình thường! Hãy nghe lão đọc bài thơ này nhé!
(rất say)
Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường!
Đéo diện lượt là, đéo đế vương!
Đéo vênh vang mặt: giai đéo sợ!
Đéo giáo dở lòng: gái đéo thương!
Đéo khoác lác cho phường vô dụng!
Đéo cúi luồn hoá đứa bất lương!
Đời có ra chi mà đéo chửi!
Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường! **
Hề:
– Chết chết! Chết chết! Cụ Sùng ông ơi, đừng nói nhảm nữa! Đàn tế họ đang kéo cả ra đây kia kìa!
Sùng ông:
– Thế thì để lão hạ nhé.
Hề:
– Để tôi đỡ cụ!
Hề và Sùng ông cùng hạ.
Dàn đồng ca ra. Các sư lập đàn tụng kinh
Dàn đồng ca:
– (hát văn) Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Học người xưa, bày tế cõi âm.
Gọi về hết thảy loại vong,
Thuộc dòng vong bướm Đàng Trong,
Đàng Ngoài.
Cùng là trong hội liên tài,
Đoạn trường đứt ruột với ai một nhà.
Uổng thay mệnh bạc tài hoa,
Tha hương cầu thực xa nhà chết oan!
Về đây tụ họp dưới đàn,
Vong nào vong nấy xếp hàng nghe kinh!
Cũng như thập loại chúng sinh,
Sinh ư tử nghiệp vì tình mà theo.
Phàm những kẻ trèo đèo, lội suối,
Đến những vong chết đuối vực sâu.
Bến xe, bãi chợ, ga tầu,
Thành cao hào rộng ngõ hầu tử vong.
Cả những vong đi tong bàn rượu,
Mặt đỏ gay sừng sộ líu lô.
Chuyện đời bể Sở sông Ngô,
Thiên la bát xát giang hồ mà vong!
Rồi những kẻ bẽ bàng sắc dục,
Giữ bề ngoài nảy mực cầm cân.
Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.
Sớm đào tối mận lân la,
Đầu tiên sờ đít sau ra sờ đùi…
Lại những vong công hầu khanh tướng,
Nơi thâm nghiêm thì thụt vào ra.
Lăm le gánh vác sơn hà,
Bạn bè toàn những mãng xà diều hâu.
Trường danh lợi biết đâu là đủ,
Danh càng cao thù oán càng cao.
Thác đi vênh váo được nào,
Văn thơ để lại vận vào tiếng nhơ!
Cũng nhiều vong bơ phờ hốc hác,
Tưởng như mình thiên chức tài cao.
Trường văn trận bút ào ào,
Viết hàng đống sách vứt vào lãng quên.
Cho hay trong trận bút nghiên,
Cơ trời thành bại mới nên được nào!
Có những vong ngôi sao từ bé,
Khi người ta còn trẻ tài cao.
Ngây thơ hồn hậu dường nào,
Tiếc thay bỏ lỡ rồi vào lãng quên!
Có những vong bạc tiền như nước,
Dăm câu thơ câu được câu không.
Mượn phường đàn nhị bát âm,
Le te phổ nhạc hát ầm xung quanh.
Chết đi chỉ bọn thập thành,
Quên quên nhớ nhớ đàn anh đa tài!
Lại những vong rạc rài khói thuốc,
Thân hình như móc dưới cống lên.
Văn chương mặt lạnh như tiền,
Viết ra những chuyện nửa điên nửa khùng.
Tự xưng tài tử đa cùng,
Chết đi ai biết nhặt xương cho người?
Kìa những vong tươi cười điếm đáp,
Lập loè như đom đóm hàng đêm.
Ngược xuôi văn bút bao niên,
Chết rồi chẳng biết người hiền hay ngu!
Những là “tứ hải quần chu”,
“Giai không vạn cảnh” thiên thu những là…
Không đếm xuể vong ma các loại,
Thôi thôi đành đại khái nêu danh,
Về đây hớp rượu bát canh,
Lá đa cháo lão hợp thành đàn siêu!
Đừng chê dù ít hay nhiều,
Uy linh phép Phật nhiễu điều giá gương.
Cùng chung một lẽ vô thường,
Đi đâu cũng chỉ thấy đường mà thôi!
Khi còn sống lúc khóc cười,
Thị phi chỉ để mua vui cho sành!
Văn đàn một cuộc đua tranh,
Dở hay cũng phải để dành thiên thu.
Bảo nhau nên chọn đường tu,
Mênh mang cửa Phật trì đồ chúng sinh.
Từ bi phổ độ hữu tình,
Không không sắc sắc cho mình cho ta.
Nam mô đức Phật Di đà,
Dọn lòng siêu thoát gần xa thượng đài!
Tất cả múa hoa đăng và múa chạy chái.

Dàn đồng ca:
– (hát cách) Xuân đã về! Xuân đã về!
Kìa xuân đã về!
Bốn mùa: Xuân trước hết,
Trăm tiết: Hiếu làm đầu!
Tết về bát ngát một màu Hiếu – Xuân!
Bát ngát tình đời, bát ngát tình xuân,
Xốn xang trên bước đường trần.
Phương nao kết giải mây Tần cho ta?
Từ nay khi nhớ quê nhà,
Thấy mây Tần cũng ngỡ là Hiếu – Xuân!
Mùa xuân là một màu xanh,
Là gió trên cao lá ở cành.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở,
Đồng nàng và lúa ở đồng anh!
Mây xanh xanh, trời thanh thanh!
Rồng vàng lại xuất hiện trên thành!
Lúa ở đồng tôi và lúa ở,
Đồng nàng và lúa ở đồng anh!
Mùa xuân về, mùa xuân về
Mùa xuân là cả một màu xanh.
Lúa ở đồng tôi và lúa ở,
Đồng nàng và lúa ở đồng anh!

Bắt đầu là cái thắt lưng xanh…*
Pháo hoa nổ, trống thúc
Tất cả cùng hạ.

—————————————————-

Những chỗ đánh dấu * và in nghiêng đều là thơ Nguyễn Bính
** Thơ Khuyết danh (ngờ là của Trần Bình, người truyền bá Dịch cân kinh ở Việt Nam.

Nguồn SGTT

Comments are closed.